QPTD -Thứ Hai, 19/03/2012, 13:17 (GMT+7)
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lực lượng phòng hoá


Thiếu tướng, TS. Phạm Quốc Trung
 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ,…”1. Quán triệt quan điểm đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Hoá học đã xác định và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm đẩy mạnh xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần xây dựng Binh chủng chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. 

Là một binh chủng kỹ thuật của Quân đội, các hoạt động của Binh chủng Hóa học luôn đòi hỏi những tri thức chuyên ngành đặc thù với những yêu cầu cao về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ. Trong tình hình mới, khi mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra những thách thức mới thì vấn đề đó càng có ý nghĩa quan trọng. Trên thế giới, các loại vũ khí hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân đang được nhiều nước nghiên cứu, phát triển với trình độ công nghệ ngày càng cao. Những thách thức an ninh phi truyền thống, như: hoạt động khủng bố, thảm họa, sự cố lớn về hóa học, phóng xạ do thiên nhiên hoặc con người gây ra có xu hướng tăng lên. Cùng với đó, sự phát triển của nghệ thuật tác chiến, trong đó nghệ thuật bảo đảm phòng hoá có nhiều nội dung mới cần được tập trung nghiên cứu, như: dự báo khả năng sử dụng và mức độ gây thiệt hại trong các tình huống địch sử dụng vũ khí hủy diệt lớn; xây dựng tiềm lực phòng hoá trên các hướng chiến lược, trong các khu vực phòng thủ…

Nhận thức rõ tình hình đó, những năm qua, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Hoá học đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trực tiếp là của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ hoá học có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, nắm vững quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, có trình độ khoa học chuyên ngành đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ làm nòng cốt về công tác phòng hoá. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ, chuyên gia phòng hóa đầu ngành được đào tạo cơ bản, nhất là số được đào tạo về kỹ thuật phòng chống vũ khí hoá học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân ở Liên Xô (cũ) đang giảm dần. Ở trong nước, cho đến nay, chưa có cơ sở đào tạo đồng bộ, hoàn chỉnh cho đối tượng là kỹ sư quân sự chuyên ngành phòng hoá; kết quả liên kết đào tạo kỹ sư phòng hoá quân sự giữa một số cơ sở đào tạo còn khiêm tốn cả về số lượng và chất lượng. Việc đào tạo sau đại học, đào tạo lại cán bộ kỹ thuật phòng hóa gặp không ít khó khăn vì nhiều cán bộ trước kia không được đào tạo cơ bản. Số cán bộ phòng hoá do học chuyển loại để có văn bằng 2 hoặc học tại chức, hiện nay không đủ tiêu chí để đào tạo sau đại học chuyên ngành kỹ thuật hoá học. Nhiều cán bộ có nguyện vọng được đi học sau đại học, nhưng chỉ dừng lại ở trình độ thạc sĩ. Mặt khác, do đòi hỏi thời gian tích lũy thực tế, một bộ phận cán bộ sau khi tốt nghiệp cao học thì quá tuổi để làm nghiên cứu sinh, nhất là với chuyên ngành khoa học nghệ thuật quân sự. Việc đào tạo ở nước ngoài cũng gặp khó khăn, trong đó khó tìm các đối tác chấp nhận đào tạo cán bộ về lĩnh vực nhạy cảm này. Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ của đa số cán bộ hiện đang công tác còn rất hạn chế…

Tình hình trên cho thấy, việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực phòng hóa chất lượng cao (NLPHCLC) của Quân đội đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết và là một mục tiêu hết sức quan trọng. Nhận thức rõ thực trạng đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Binh chủng Hóa học nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã xác định đây là một khâu đột phá và đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu: “Tích cực, chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách thu hút và giữ cán bộ chất lượng cao; khuyến khích đào tạo sau đại học, nhất là tiến sĩ, phấn đấu cuối nhiệm kỳ: số cán bộ có trình độ đại học trở lên đạt trên 95%, trong đó 15% có trình độ sau đại học”. Theo đó, để đẩy mạnh xây dựng, phát triển nguồn NLPHCLC, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, cần nâng cao nhận thức cho cán bộ các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy về nhiệm vụ xây dựng, phát triển nguồn NLPHCLC. Trong thực tế, đã có một thời gian dài, việc đào tạo và duy trì đội ngũ cán bộ kỹ thuật về lĩnh vực phóng xạ, hạt nhân không được quan tâm đúng mức, tạo nên sự hẫng hụt lớn ở quy mô quốc gia. Do đó, để phát triển nguồn NLPHCLC trong thời gian tới, trước hết, cần nâng cao nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về tầm quan trọng, yêu cầu cấp thiết của việc đẩy mạnh xây dựng, phát triển nguồn NLPHCLC. Đồng thời, trên cơ sở rà soát, phát hiện sự thiếu hụt và mất cân đối về đội ngũ cán bộ hóa học trong toàn quân phải xây dựng được quy hoạch tổng thể; từ đó, chủ động bồi dưỡng, tạo nguồn đều đặn theo lộ trình hằng năm về các chuyên ngành khoa học nghệ thuật và kỹ thuật công nghệ phòng hóa. Việc rà soát, xây dựng quy hoạch tổng thể này không chỉ riêng BCHH thực hiện mà phải có sự phối hợp nhiều cơ quan, đơn vị, cơ sở đào tạo, trung tâm khoa học có chức năng quản lý, sử dụng các cán bộ chuyên ngành phòng chống vũ khí hủy diệt lớn của Quân đội để tiến hành theo sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng. Cần nhận thức rõ tính chất đặc thù, chuyên ngành hẹp và sâu của lĩnh vực phòng hóa để tránh tư tưởng xem nhẹ việc tổ chức đào tạo khi lưu lượng không nhiều. Trên cơ sở quy hoạch, cần tranh thủ và liên kết nhiều nguồn lực: cả trong nước và ngoài nước, cả quân sự và dân sự để đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học; từ đó phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực phòng chống vũ khí hủy diệt lớn.

Hai là, đẩy mạnh đào tạo cán bộ có trình độ sau đại học về phòng hóa, nhất là tiến sĩ. Thực trạng hiện nay cho thấy, số lượng cán bộ hoá học có trình độ sau đại học, nhất là tiến sĩ chuyên ngành còn rất ít. Do vậy, các đơn vị, nhà trường cần tạo mọi điều kiện để nâng cao về số lượng và chất lượng đào tạo; có cơ chế, chính sách phù hợp để động viên cán bộ đi đào tạo sau đại học. Quá trình đào tạo phải gắn với nghiên cứu khoa học, có nhiều biện pháp đồng bộ để kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn, cơ bản với ứng dụng, tránh tình trạng nghiên cứu xa rời thực tiễn. Trước khi cán bộ vào dự khoá sau đại học, chỉ huy các đơn vị phải giao nhiệm vụ, cung cấp thông tin, định hướng việc lựa chọn đề tài nghiên cứu và hình thành đề cương sơ bộ cho học viên ngay từ đầu. Cán bộ đi học phải tập trung bám sát cái “cần” của thực tiễn phòng hóa; có những tìm tòi, sáng tạo, phát hiện những vấn đề mới, không chỉ dựa hoàn toàn vào cái đã có sẵn tại các cơ sở đào tạo hay của giáo viên hướng dẫn. Các sản phẩm tốt nghiệp của học viên (luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ) không chỉ lưu trữ tại các cơ sở đào tạo mà còn phải được giới thiệu, phổ biến, ứng dụng rộng rãi và được lưu trữ tại các thư viện khoa học của các đơn vị, nhà trường; coi đó là nguồn tư liệu chung để cán bộ nghiên cứu, khai thác, tham khảo. Để rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, gắn kết chặt chẽ giữa đơn vị với cơ sở đào tạo, trong quá trình đào tạo, các học viên phải tích cực, chủ động giữ mối liên hệ thường xuyên với các cơ quan, đơn vị trong Binh chủng để tham khảo tư liệu, cập nhật thông tin mới. Đối với Binh chủng, cần xác định rõ trách nhiệm để giao nhiệm vụ, khuyến khích cán bộ khoa học của Binh chủng tham gia hướng dẫn, nhận xét, phản biện các luận án, luận văn của học viên trong các học viện, nhà trường; thường xuyên mời giáo viên của các cơ sở đào tạo tham gia chương trình tập huấn, hội thảo khoa học, các cuộc diễn tập phòng hoá, nghiên cứu các đề tài khoa học, biên soạn tài liệu…

Ba là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng xây dựng nguồn NLPHCLC. Trên cơ sở các quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, trong xu hướng mở rộng hội nhập quốc tế, trong đó có các hoạt động đối ngoại về quốc phòng - an ninh, cần tranh thủ thời cơ, chủ động và tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn mà Việt Nam đã tham gia; phối hợp, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế (Tổ chức Công ước cấm vũ khí hoá học (OPCW), Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các đối tác thực hiện các dự án xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, chuyển giao công nghệ sản xuất, phát triển trang bị hoá học…) để bồi dưỡng nguồn nhân lực phòng hóa. Cùng với đó, một vấn đề hết sức quan trọng là, phải đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ở những nước có kỹ thuật phòng chống vũ khí hoá học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân tiên tiến để đào tạo nguồn NLPHCLC cho ta. Mặt khác, chúng ta phải lựa chọn cán bộ, chuẩn bị thật tốt cả về kiến thức cơ bản, khả năng ngoại ngữ, sức khoẻ... để gửi đi đào tạo, trong đó ưu tiên các chuyên ngành nghiên cứu, chế tạo các loại trang bị hóa học hiện đại.

Bốn là, coi trọng hình thức tự đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhằm củng cố, nâng cao kiến thức, tiếp thu những công nghệ mới, tri thức mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phòng hoá trong tình hình mới. Trước hết, cần quan tâm đầu tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cơ sở đào tạo cán bộ hóa học ở các bậc học; đẩy mạnh đổi mới cả về nội dung, chương trình, đội ngũ giáo viên, tài liệu, phương tiện dạy học và các yếu tố bảo đảm. Trong đó, chú trọng đầu tư các loại trang bị hóa học tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, các phòng thí nghiệm chuyên dụng, cơ sở thực hành về kỹ thuật phòng chống vũ khí hủy diệt lớn. Các nhà trường phối hợp với các cơ quan, đơn vị, thường xuyên đưa đội ngũ giảng viên trực tiếp chủ trì hoặc tham gia các hoạt động thực tiễn thời bình của Bộ đội Hóa học, như: xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, khắc phục sự cố hoá chất, phóng xạ, xử lý ô nhiễm môi trường… để tích luỹ kinh nghiệm. Các cấp quản lý cần có nhiều biện pháp giao nhiệm vụ, tạo điều kiện và hỗ trợ kinh phí để huy động đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhất là số thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu các đề tài khoa học, biên soạn giáo trình, viết sách, hướng dẫn đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ phòng hóa; trong đó, chú trọng kết hợp bồi dưỡng và giao cho cán bộ trẻ chủ trì các nhiệm vụ khoa học. Cùng với việc đào tạo cơ bản cho đội ngũ sĩ quan trẻ, trong quá trình đào tạo lại, có thể bồi dưỡng ngoại ngữ, công nghệ thông tin theo các hướng: lấy cán bộ được đào tạo cơ bản về ngoại ngữ, công nghệ thông tin về bồi dưỡng kiến thức binh chủng, hoặc ngược lại, đưa cán bộ hóa học đi bồi dưỡng hoặc đào tạo văn bằng 2 về ngoại ngữ, công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, các cấp cần khơi dậy và khích lệ việc tự học ngọai ngữ, công nghệ thông tin, tạo thành phong trào rộng rãi, sôi nổi với nhiều cấp độ. Các nhà trường, học viện cần chủ động, tăng cường phối hợp, liên kết, trao đổi thông tin về đào tạo, nghiên cứu lĩnh vực phòng hóa giữa các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, các cơ sở công nghiệp, nhất là công nghiệp hóa chất, hạt nhân trong và ngoài quân đội.

Năm là, quan tâm xây dựng lực lượng sĩ quan dự bị phòng hoá từ các sinh viên tốt nghiệp đại học, cán bộ, nhân viên của các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp có ngành nghề chuyên môn tương đồng, phù hợp với nhiệm vụ phòng hoá. Việc tuyển chọn các sĩ quan dự bị đã tốt nghiệp đại học ở những chuyên ngành phù hợp vào phục vụ Quân đội (kể cả theo thời hạn nghĩa vụ quân sự, hay tình nguyện phục vụ lâu dài) cần được quan tâm và ưu tiên thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

Bởi lẽ, hướng tạo nguồn này vừa tiết kiệm được thời gian, kinh phí đào tạo, vừa có thể sử dụng được ngay vào một số nhiệm vụ cấp thiết của Binh chủng. Muốn vậy, cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút, giữ gìn và phát huy đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn cao trong Quân đội, tạo động lực khuyến khích cán bộ đi đào tạo sau đại học, nhất là nghiên cứu sinh. Lực lượng sĩ quan dự bị này được trang bị những kiến thức cần thiết; hằng năm, làm tốt công tác quản lý, huấn luyện bổ sung thông tin mới, tổ chức diễn tập (diễn tập khu vực phòng thủ, cứu hộ, cứu nạn trong phòng thủ dân sự…) và có thể gọi một số nhập ngũ tham gia lực lượng thường trực.

Phòng chống vũ khí hủy diệt lớn trong chiến tranh hay các thảm họa liên quan đến hóa học trong thời bình là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và của mỗi người dân, trong đó lực lượng phòng hoá làm nòng cốt. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ hoá học nói chung và nguồn NLPHCLC nói riêng là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cần được các cấp quan tâm đẩy mạnh thực hiện.

Thiếu tướng, TS. PHẠM QUỐC TRUNG

Tư lệnh Binh chủng Hoá học

                  

 1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 130.

 

 

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong Quân đội
Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác phụ nữ, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác quan trọng này trong Quân đội.
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 16:36 - 16/04/2021

EUR26,775.7828,174.59

GBP30,993.7832,288.33

USD22,950.0023,160.00

Giá vàng

Cập nhật : 16:16 - 16/04/2021

HCMSJC55.08055.450
Hà NộiSJC55.08055.470
Đà NẵngSJC55.08055.470