QPTD -Thứ Hai, 10/10/2016, 08:03 (GMT+7)
Lực lượng vũ trang Quân khu 7 sau 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng

Vừa qua, Quân khu 7 đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng giai đoạn 2006 - 2016; qua đó, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích, làm cơ sở để Quân khu tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

      Quang cảnh Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng của Quân khu 7.   (Ảnh: baoquankhu7.vn)

Luật Quốc phòng thuộc hệ thống luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là đạo luật khung - văn bản luật có tính pháp lý cao nhất về lĩnh vực quốc phòng, tạo cơ sở pháp lý để luật hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng như các lĩnh vực khác có liên quan. Kể từ khi Luật Quốc phòng được ban hành đã tạo thuận lợi cho các cấp, các ngành, các địa phương triển khai nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh chung đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, các tỉnh (thành) ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân các tỉnh (thành) và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong địa bàn Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, tích cực, toàn diện Luật Quốc phòng và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu vững mạnh, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, nhất là Pháp lệnh 39/2005/QH11, ngày 14-6-2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI), Chỉ thị 24/2006/CT-TTg ngày 01-8-2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành Luật Quốc phòng và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của Bộ Quốc phòng, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo, hướng dẫn Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh (thành phố) chủ trì phối hợp với các ban đảng, sở, ngành làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành hệ thống văn bản triển khai, thi hành Luật Quốc phòng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật có liên quan đến quốc phòng, gắn với triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương. Trong đó, trước hết tập trung vào thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Dân quân tự vệ, Pháp lệnh Dự bị động viên, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Pháp lệnh Động viên công nghiệp và các văn bản của Chính phủ quy định về xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng và chính sách đối với Quân đội nhân dân, công tác giáo dục quốc phòng toàn dân và phòng không nhân dân. Đồng thời, ban hành quyết định thành lập các Ban Chỉ đạo, Hội đồng Tư vấn pháp luật cấp quân khu; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, đơn vị thành lập các tổ chức tương ứng đúng thẩm quyền, quy định của pháp luật. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Chỉ đạo, Hội đồng Tư vấn các cấp đã chủ động xây dựng, ban hành quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ của các thành viên và bổ sung, kiện toàn trong quá trình hoạt động để duy trì và nâng cao hiệu quả, chất lượng thực thi pháp luật. Theo Luật Quốc phòng, Quân khu chỉ đạo các cấp làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với tỉnh (thành) ủy, ủy ban nhân dân ban hành các đề án về xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, nhất là lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên, tạo cơ sở nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước khi ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quốc phòng, các cấp, các ngành tổng kết, đánh giá việc thực hiện các văn bản đã ban hành, khắc phục những hạn chế, bất cập; đồng thời, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, lấy ý kiến đóng góp của các cấp, các ngành và địa phương. Nhờ đó, hệ thống văn bản thi hành Luật luôn bảo đảm kịp thời, đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và tính khả thi cao; quy định rõ trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhiệm vụ quốc phòng.

Cùng với đó, Quân khu yêu cầu các cấp quan tâm đến xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, trong đó chú trọng xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng1; nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và lực lượng vũ trang. Đồng thời, tăng cường bảo vệ bí mật quân sự, quản lý chính trị nội bộ chặt chẽ, nền nếp, bảo đảm an toàn tuyệt đối về chính trị trong lực lượng vũ trang Quân khu. Chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội được triển khai đồng bộ, sâu rộng; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được xã hội hóa, đạt hiệu quả thiết thực, giải quyết kịp thời, đúng chế độ chính sách cho các đối tượng tham gia kháng chiến, người có công với cách mạng và chính sách thương binh, bệnh binh tồn đọng sau chiến tranh. Trước yêu cầu mới của tình hình, nhiệm vụ, Quân khu chỉ đạo các địa phương, đơn vị đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường trung học phổ thông theo quy định; tổ chức bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo phân cấp và mở rộng bồi dưỡng cho các chức sắc, chức việc tôn giáo, chủ doanh nghiệp, các già làng, trưởng bản2.

Trong xây dựng tiềm lực kinh tế, cấp uỷ, chính quyền các tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu đã tích cực triển khai nhiều biện pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện địa lý, tiềm năng, thế mạnh của địa phương, vùng, miền để phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng; nhà máy, xí nghiệp, các khu kinh tế, khu công nghiệp được hình thành và phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Chủ động khảo sát quy hoạch nền kinh tế - xã hội kết hợp với tăng cường quốc phòng - an ninh trên từng vùng, miền để có cơ sở xây dựng kế hoạch năm đầu chiến tranh cho phù hợp với tình hình mới của từng địa phương. Theo đó, quy hoạch phát triển các nhà máy, khu công nghiệp gắn với thế phòng thủ, căn cứ hậu phương; phát triển công nghiệp dân dụng, sẵn sàng chuyển sang công nghiệp quốc phòng; các khu kinh tế - quốc phòng gắn với quy hoạch ổn định dân cư. Đây là điều kiện cơ bản để tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sẵn sàng huy động, chuyển đổi mục đích, công năng phục vụ cho lực lượng vũ trang nếu chiến tranh xảy ra.

Trong xây dựng tiềm lực quân sự, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị luôn thực hiện đúng chủ trương của Bộ Quốc phòng và yêu cầu nhiệm vụ của Quân khu, bảo đảm quân số thường trực trên 96%, sắp xếp nguồn dự bị vào đơn vị dự bị động viên đạt 79,67%, bảo đảm tỉ lệ đúng và gần đúng chuyên nghiệp quân sự theo quy định, sẵn sàng động viên khi có tình huống xảy ra. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng theo phương châm “vững mạnh, rộng khắp”, có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao, nhất là chất lượng chính trị, tổ chức biên chế đủ các thành phần lực lượng theo phân cấp. Theo đó, cấp tỉnh có đại đội dân quân tự vệ binh chủng chiến đấu; cấp huyện có đại đội dân quân tự vệ cơ động, trung đội (hoặc tiểu đội) dân quân thường trực và một số trung đội dân quân tự vệ binh chủng; cấp xã có trung đội dân quân cơ động và một số tiểu đội hoặc tổ dân quân binh chủng. Riêng xã trọng điểm quốc phòng - an ninh, tổ chức tiểu đội dân quân thường trực; ở thôn, buôn, tổ dân phố có tổ, tiểu đội dân quân chiến đấu tại chỗ; dân quân tự vệ biển được tổ chức biên chế theo tàu, thuyền hoạt động trên biển chủ yếu cấp tiểu đội, trung đội. Tự vệ ở cơ quan, doanh nghiệp có lực lượng chiến đấu tại chỗ, từ tiểu đội đến đại đội; nơi trọng yếu có trung đội đến đại đội tự vệ cơ động và một số trung đội binh chủng. Trên cơ sở phương án tác chiến phòng thủ Quân khu, các địa phương xây dựng khu vực phòng thủ đảm bảo tốt thế trận, lực lượng trên từng hướng, từng khu vực, nhất là hướng chủ yếu và khu vực trọng điểm, gắn với thế bố trí các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ và Quân khu. Cùng với đó, Quân khu đã chỉ đạo các tỉnh (thành phố) lập quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ theo Chỉ thị 06/CT-TM, ngày 04-3-2011 của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; khảo sát, đầu tư xây dựng sở chỉ huy thời chiến, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, sở chỉ huy A2 cấp tỉnh, huyện; khảo sát cơ sở hạ tầng của địa phương, công trình kinh tế dân sinh, hang động thiên nhiên,... qua đó, lập hồ sơ quản lý, cải tạo và sử dụng cho nhiệm vụ phòng thủ. Theo yêu cầu đề ra, công tác huấn luyện của lực lượng vũ trang Quân khu luôn bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát đối tượng, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị, nhất là các đơn vị chủ lực thực hiện nhiệm vụ cơ động tác chiến làm nhiệm vụ A, A2, v.v. Để làm được điều đó, Quân khu đã chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, tổ chức hội thi, hội thao, kiểm tra, phúc tra, khắc phục khâu yếu, mặt yếu; tổ chức diễn tập đúng kế hoạch, nhất là diễn tập khu vực phòng thủ, đạt hiệu quả thiết thực3. Ngoài kinh phí của trên, hằng năm, Quân khu và các địa phương, đơn vị còn đầu tư hàng trăm tỉ đồng, cùng số lượng lớn ngày công lao động để xây dựng thao trường, bãi tập, nghiên cứu cải tiến mô hình học cụ, áp dụng công nghệ thông tin phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của lực lượng vũ trang tại chỗ. Ngoài ra, Quân khu còn chỉ đạo các cơ quan, địa phương, đơn vị bổ sung, điều chỉnh các quyết tâm, kế hoạch tác chiến cơ bản, tổ chức luyện tập theo các phương án, như: kế hoạch phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, phòng, chống cháy nổ, cháy rừng, khắc phục hậu quả do thiên tai, sự cố, thảm họa gây ra; duy trì công tác phòng không nhân dân có nền nếp, sẵn sàng tham gia xử trí các tình huống. Tổ chức các lực lượng phối hợp nắm tình hình, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát địa bàn, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Từ thực hiện tốt Luật Quốc phòng, những năm qua, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại trên địa bàn Quân khu 7 đạt yêu cầu đề ra; quy trình, phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp có nhiều đổi mới và đạt hiệu quả cao; hệ thống chính trị các cấp được củng cố, kiện toàn; lực lượng vũ trang Quân

khu được tổ chức, biên chế theo đúng quy định, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng được nâng cao. Vai trò tham mưu của các ban, ngành, đoàn thể, nòng cốt là lực lượng vũ trang Quân khu được phát huy, giúp cho cấp ủy, chính quyền các địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thiếu tướng LÊ BỬU TUẤN, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu

_______________

1 - Tính đến tháng 6 năm 2016, toàn Quân khu đã tổ chức 1.338 chi bộ quân sự; đảng viên trong dân quân tự vệ đạt 23,17%; đoàn viên đạt 61,10% (so với năm 2006 tăng 94 chi bộ; đảng viên tăng 12,07%, đoàn viên tăng 17,68%). 100% chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp xã là đảng viên, trong đó có 96,78% tham gia cấp ủy.

2 - Kết quả bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh: Đối tượng 1 = 97 lớp/152 người, đối tượng 2 = 65 lớp/6.257 người; đối tượng 3 và 4 = 2.991 lớp/251.579 người; chức sắc tôn giáo và các đối tượng khác= 6.349 lớp/675.795 người; sinh viên, học sinh= 7.509 lớp/ 8.159.388 người.

3 - Tham gia 02 cuộc diễn tập do Bộ chỉ đạo; tổ chức 06 cuộc diễn tập cấp Quân khu; 13 cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh (thành phố); 232 cuộc cấp quận, huyện; 1.850 cuộc diễn tập chiến đấu trị an cấp xã, phường.

Ý kiến bạn đọc (0)