Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Hai, 23/08/2021, 15:59 (GMT+7)
Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội là nội dung quan trọng, giải pháp chiến lược được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thực hiện mục tiêu đó, đòi hỏi sự nỗ lực và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó ngành Công nghiệp Quốc phòng là nòng cốt.

Công nghiệp quốc phòng là một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, tiềm lực quốc phòng và an ninh đất nước. Thấu triệt quan điểm đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền công nghiệp quốc phòng không ngừng phát triển. Đến nay, ngành Công nghiệp Quốc phòng đã nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa được nhiều loại vũ khí, khí tài, trang bị, đạn dược, các sản phẩm lưỡng dụng, kinh tế có tính chuyên môn hóa với hàm lượng khoa học cao, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc và tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy kết quả đó, với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở bám sát thực tiễn, nhất là yêu cầu phát triển Quân đội trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”1. Đây là giải pháp chiến lược, cụ thể hóa chủ trương: xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để hiện thực hóa nhiệm vụ quan trọng này, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, nhất là ngành Công nghiệp Quốc phòng cần quán triệt sâu sắc, nhận thức thấu đáo, tổ chức thực hiện đồng bộ, khoa học, hiệu quả các giải pháp; trong đó, tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo; xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công nghiệp quốc phòng. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, cơ sở pháp lý, mang tính nguyên tắc nhằm tạo sự thống nhất từ nhận thức đến hành động, từ phương châm, phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo đến giải pháp thực hiện ở các cấp trong xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, trọng tâm là Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 16/7/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về Đề án “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI (nhiệm kỳ 2020 - 2025); Quy hoạch xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2025, tầm nhìn năm 2035, v.v. Từ đó, cụ thể hóa bằng nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, triển khai thực hiện các chiếc lược, quy hoạch tổng thể, đề án, kế hoạch trên từng lĩnh vực của công nghiệp quốc phòng, bảo đảm phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, đạt trình độ khoa học cao và các tiêu chí về hiện đại, lưỡng dụng. Trong đó, đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các đề án nghiên cứu, sản xuất một số vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại, cần thiết cho phòng thủ đất nước cả trước mắt và lâu dài, nhất là các loại vũ khí chiến lược theo lộ trình, bước đi phù hợp với tiềm lực mọi mặt của đất nước.

Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại Hội nghị. Ảnh:TTXVN)

Để tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, điều hành, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng đúng đường lối lãnh đạo của Đảng, phù hợp với thực tiễn, các cơ quan chức năng, lực lượng liên quan tiến hành rà soát, thẩm định hệ thống văn bản liên quan đến công nghiệp quốc phòng đã ban hành, kịp thời phát hiện cả những nội dung phù hợp và vấn đề bất cập, cần bổ sung, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Trên cơ sở đó, tập trung nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, nhất là Luật Công nghiệp quốc phòng Việt Nam theo hướng đổi mới, hội nhập, sát thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và cải cách hành chính, bảo đảm thiết thực. Hệ thống văn bản pháp lý cần chú trọng tháo gỡ các “rào chắn” để khuyến khích, thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển công nghiệp quốc phòng; từng bước cụ thể hóa việc áp dụng các văn bản pháp luật, làm cơ sở cho thực hiện hiệu quả công tác này, như: sở hữu trí tuệ, thị trường khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, cạnh tranh, đấu thầu, v.v. Đồng thời, cần gắn kết chặt chẽ với các chiến lược, chính sách phát triển về quốc phòng, quân sự và kinh tế, xã hội.

Hai là, đa dạng hóa nguồn lực, tạo tiềm lực đủ mạnh để phát triển nền công nghiệp quốc phòng theo nhiệm vụ mới. Nhu cầu đầu tư cho xây dựng, phát triển nền công nghiệp hiện đại là rất lớn, nhất là đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ cốt lõi, có tính dẫn hướng, tiên phong trong thiết kế, chế tạo vũ khí, khí tài hiện đại, đặc biệt là các khâu tích hợp hệ thống, kiểm tra, thử nghiệm vũ khí, trong khi đó ngân sách Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực này còn hạn hẹp. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường nguồn đầu tư của Nhà nước theo tiềm lực đất nước, cần mở rộng phương thức huy động, phát huy tổng thể các nguồn lực cho thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Quá trình triển khai, thực hiện cần nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp quốc phòng phát triển về thu hút vốn đầu tư, chuyên gia giỏi, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp quốc phòng; áp dụng mô hình đối tác công - tư, liên doanh với nước ngoài, v.v. Các cơ quan, đơn vị cần đặc biệt chú trọng đầu tư đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, “đi tắt đón đầu”, kết hợp đa năng, lưỡng dụng, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, v.v. Trước mắt, cần tập trung mọi nguồn lực, ưu tiên đầu tư để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các chương trình, dự án trọng điểm; từng bước chuyển giao công nghệ cho công nghiệp dân dụng, tạo nền tảng, động lực để phát triển công nghiệp quốc gia.

Cùng với đó, cần chú trọng xây dựng, phát triển, thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp quốc phòng; ưu tiên xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học có trình độ cao, các nhóm nghiên cứu mạnh, chuyên sâu, chuyên gia đầu ngành, đội ngũ kỹ sư giỏi. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu, lộ trình xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng trong từng giai đoạn, nhiệm vụ.

Ba là, quy hoạch, kiện toàn mô hình tổ chức và cơ chế quản lý công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Trên cơ sở bảo đảm năng lực tự chủ về thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, nền công nghiệp quốc phòng cần đổi mới, xây dựng, phát triển theo hướng hiện đại hóa cả về tổ chức, biên chế, cơ chế quản lý, hoạch định chủ trương, quy hoạch tổng thể, các đề tài khoa học, đề án, dự án, kế hoạch, chương trình, dây chuyền công nghệ, v.v. Việc quy hoạch, kiện toàn tổ chức cần xem xét tổng thể, kỹ lưỡng, hiệu quả và gắn với bảo đảm năng lực sản xuất. Hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm phục vụ hiện đại hóa Quân đội và dân sinh cần đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu, tiến bộ khoa học công nghệ mũi nhọn, công nghệ 4.0, tạo bước chuyển biến mang tính đột phá về khoa học, công nghệ. Tiếp tục kiện toàn mô hình tổ chức, hoạt động của các cơ sở sản xuất, sửa chữa quốc phòng theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, thiết kế và sản xuất, giữa sản xuất và sửa chữa, bảo đảm hòa nhập sâu hơn vào công nghiệp quốc gia, nâng cao hiệu quả kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong hoạt động của Ngành. Trọng tâm là cơ cấu, sắp xếp lại các cơ sở nòng cốt theo hướng tập trung, giảm số lượng, tăng quy mô, chất lượng và sự gắn kết với công nghiệp dân sinh; từng bước nghiên cứu, xây dựng các cụm công nghiệp quốc phòng phù hợp thế bố trí phòng thủ chiến lược của đất nước. Chủ động định hướng hoạt động của các tổng công ty, công ty, nhà máy, xí nghiệp,… theo ngành, nhóm sản phẩm; nghiên cứu và từng bước đưa các doanh nghiệp Quân đội mạnh về kỹ thuật, tài chính để tập trung đầu tư hiện đại hóa, xây dựng các cơ sở đủ mạnh, có công nghệ tiên tiến, hiện đại, đủ điều kiện chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị hiện đại, sản phẩm lưỡng dụng, sản phẩm dân dụng có giá trị kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa vũ khí, trang bị cho Quân đội và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao trình độ khoa học công nghệ cho nền công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Để chủ động xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng trong điều kiện toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trên cơ sở bám sát đường lối đối ngoại của Đảng, tùy theo chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về công nghiệp quốc phòng một cách toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; hợp tác cả song phương và đa phương, với tinh thần tự chủ, không lệ thuộc. Bằng các giải pháp xây dựng lòng tin, củng cố quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác truyền thống, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho việc mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn, phương pháp quản lý, trình độ khoa học - kỹ thuật tiên tiến, v.v. Trong đó, tập trung tận dụng, duy trì hợp tác với các đối tác truyền thống, sẵn có; chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả hợp tác theo hướng hai bên cùng có lợi, phù hợp với xu hướng hợp tác quốc tế trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cùng với việc phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các đơn vị cần đẩy mạnh liên doanh, liên kết, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, phát huy quyền tự chủ của các cơ sở công nghiệp quốc phòng, nâng cao năng lực cạnh tranh, quảng bá và xây dựng thương hiệu, tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, góp phần thúc đẩy thực hiện mục tiêu kép là hiện đại hóa Quân đội và phát triển kinh tế - xã hội.

Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, nhưng cần có bước đi, cách thức tiến hành khoa học, vững chắc, phù hợp với thực tiễn nhất là tiềm lực của đất nước; khắc phục hiện tượng nóng vội, đầu tư lớn, nhưng hiệu quả thấp,… góp phần tích cực vào nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại theo lộ trình đã xác định.

Đại tá DƯƠNG VĂN HÙNG, Viện Chiến lược Quốc phòng
____________________

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 158 - 159.

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng bộ Tài chính
Sáng 27-9, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trưởng đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI),...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 09:33 - 18/10/2021

EUR25,696.4927,112.98

GBP30,486.1631,759.89

USD22,630.0022,860.00

Giá vàng

Cập nhật : 09:25 - 18/10/2021

HCMSJC57.10057.800
Hà NộiSJC57.10057.820
Đà NẵngSJC57.10057.820