QPTD -Thứ Năm, 07/12/2017, 07:54 (GMT+7)
Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng và vấn đề đặt ra khi xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tài sản vô giá - tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tất cả tâm trí và nỗ lực cho việc tìm đường cứu nước và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, nên tư tưởng về quân sự, quốc phòng là bộ phận hữu cơ, chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ tư tưởng cách mạng của Người. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, tư tưởng quân sự, quốc phòng của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng và sâu sắc; nó không chỉ tạo ra giá trị cốt lõi trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945; cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, mà còn có giá trị xuyên suốt và là kim chỉ nam trong đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vì thế, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng các chiến lược chuyên ngành nói riêng, nhất là trong xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự thời kỳ mới là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Để làm tốt công việc đó, điều quan trọng trước hết là phải nắm vững giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng để vận dụng cho từng chiến lược một cách phù hợp, hiệu quả.

Sáng 19-9-1954, tại Đền Hùng, Hồ Chủ tịch nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ
Đại đoàn quân Tiên Phong. (Ảnh Tư liệu)

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối chính trị, đường lối quân sự và mục tiêu chính trị của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng và nguyên lý phổ biến: “chiến tranh là tiếp tục của chính trị bằng những thủ đoạn khác”1 - thủ đoạn bạo lực, Hồ Chí Minh khẳng định: đường lối chính trị quyết định đường lối quân sự; quân sự luôn gắn với chính trị và mục tiêu chính trị của chiến tranh nhân dân phải nhằm thực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Trong đó, Người đặc biệt coi trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quân sự và chính trị, giữa chính trị và chiến tranh; khẳng định vai trò quyết định, chỉ đạo của chính trị trong mọi hoạt động quân sự, chiến tranh, từ hoạch định đường lối chiến lược, xây dựng lực lượng, tiến hành đấu tranh, v.v. Bằng các luận điểm: “Chính trị trọng hơn quân sự”, “Phải lấy chính trị làm gốc”2, Người đi đến kết luận “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”3. Điều đó có nghĩa là, mọi tổ chức và hoạt động quân sự đều phải quán triệt và tuân thủ sự chỉ đạo của đường lối chính trị. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “quân sự phục tùng chính trị”, nhưng đó không phải là chính trị chung chung, mà là “chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”4; giải quyết thắng lợi các vấn đề quân sự phải nhằm đạt mục đích chính trị của chiến tranh, mục tiêu của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó quy định mục tiêu chính trị của chiến tranh nhân dân Việt Nam; đó là: “Kháng chiến để đập tan ách đế quốc, phong kiến, giải phóng dân tộc, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất thực sự, thực hiện chế độ dân chủ mới, tiến tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”5. Quan điểm “Phải lấy chính trị làm gốc” còn thể hiện rất rõ trong chủ trương xây dựng quân đội mang bản chất giai cấp công nhân, lấy xây dựng quân đội về chính trị làm nền tảng.

Đây là một trong những giá trị cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo mọi lực lượng, mọi hoạt động quân sự trong chiến tranh nhân dân. Đồng thời, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, phương pháp luận sâu sắc trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

2. Về xây dựng hai lực lượng: chính trị và quân sự, ba thứ quân gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Từ quan điểm “dân là gốc”, “quân sự phục tùng chính trị”, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện,… Hồ Chí Minh đề ra các quan điểm, chủ trương về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng quân sự của chiến tranh nhân dân. Theo Người, lực lượng tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng bao gồm hai thành phần cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng quân sự. Điều này không phải do lúc đầu lực lượng quân sự của ta nhỏ, vũ khí, trang bị của ta kém hơn địch, mà nó phản ánh bản chất chính trị, tính chính nghĩa cùng mục đích đúng đắn của cuộc chiến tranh nhân dân. Đây là ưu thế tuyệt đối, sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Vì thế, Người chủ trương: động viên, tổ chức hết thảy mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân, cả kiều bào ta ở nước ngoài,… hình thành lực lượng chính trị rộng khắp. Lực lượng này đã cùng với lực lượng quân sự, làm cơ sở để tiến hành hai hình thức đấu tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang và kết hợp chặt chẽ giữa hai hình thức đó với nhau. Bên cạnh đó, Người đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Theo đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phải trên nền tảng xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng và “bao gồm: bộ đội chủ lực mạnh, bộ đội địa phương mạnh, dân quân du kích vững mạnh và rộng khắp”6. Mỗi thứ quân có vai trò khác nhau nhưng đều quan trọng, nên phải phối hợp hoạt động, hỗ trợ, phát huy tác dụng để tạo sức mạnh tổng hợp to lớn. Trong đó, “Dân quân tự vệ và du kích,… là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc”7.

Quan điểm trên của Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc những nguyên lý, quy luật về xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang nhân dân, tạo cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam, giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua. Đồng thời, là phương hướng để xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh, nhất là xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

3. Về khởi nghĩa vũ trang toàn dân, chiến tranh toàn dân, nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về bạo lực cách mạng vào điều kiện cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường giành chính quyền của cách mạng Việt Nam là khởi nghĩa vũ trang. Nét mới, phát triển sáng tạo của Người trong luận điểm này là: tổ chức khởi nghĩa toàn dân, lấy liên minh công nông làm nòng cốt, được chuẩn bị từ trong quần chúng; kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngay trong Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồ Chí Minh nêu rõ: “cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”. Phương châm cơ bản của chiến tranh nhân dân Việt Nam là: toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, kháng chiến trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Quan điểm chiến tranh nhân dân, vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc; dựa trên sức mạnh của toàn dân, do toàn dân tiến hành; đánh địch mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi thứ vũ khí, tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc là những điểm đặc sắc trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể đánh bại các đội quân thực dân, đế quốc nhà nghề, có lực lượng và tiềm lực quân sự, kinh tế,… hơn ta nhiều lần. Đánh giá về cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Cống hiến lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào lý luận về phương pháp cách mạng là lý luận về chiến tranh nhân dân”8. Không chỉ có giá trị trong chiến tranh, mà tư tưởng đó của Người còn là cơ sở cho đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

4. Tư tưởng dựa vào sức mình là chính; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; thêm bạn, bớt thù; tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù. Tiếp nối truyền thống độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương: kháng chiến phải dựa vào sức mình là chính. Người nói: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”9. Theo Hồ Chí Minh, dựa vào sức mình là chính, trước hết và cơ bản nhất là có đường lối cách mạng độc lập, tự chủ. Chỉ có như vậy, chúng ta mới phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc để kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Nhưng “dựa vào sức mình là chính” không đồng nghĩa với tự cô lập mình, mà ngược lại, cần tranh thủ tối đa sự giúp đỡ quốc tế, đoàn kết quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để cách mạng giành thắng lợi. Người nhắc nhở chúng ta, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế là vấn đề rất quan trọng, nhưng không được dựa dẫm, trông chờ, ảnh hưởng đến độc lập, tự chủ của đất nước. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những bầu bạn của cách mạng Việt Nam, của từng cuộc kháng chiến là lực lượng, phong trào cách mạng từ quy mô quốc gia, dân tộc đến tổ chức, cá nhân yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh trên toàn thế giới, trong đó bao hàm cả nhân dân của nước gây chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cùng với đó, cần phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù và quan trọng hơn là “phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”10.

Quan điểm trên của Người chính là cơ sở của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại; đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

5. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Một trong những quan điểm nổi bật, xuyên suốt trong tư tưởng quân sự, quốc phòng của Hồ Chí Minh là: giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và coi đó là nguyên tắc, nhân tố quyết định thắng lợi. Trong kháng chiến chống xâm lược, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành thắng lợi. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc kháng chiến mới thực sự là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, có sức mạnh vô địch. Hơn nữa, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là đối với Quân đội nhân dân đã, đang là nhân tố quyết định, đảm bảo cho lực lượng này luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì hạnh phúc của nhân dân.

Như vậy, có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng bao gồm nhiều nội dung phong phú và sâu sắc; chứa đựng những giá trị cốt lõi, cả lý luận và thực tiễn trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Điều đó đã thể hiện rõ sự trường tồn tư tưởng của Người theo thời gian từ chính bản chất cách mạng và khoa học cũng như sự đáp ứng ngày càng cao yêu cầu phát triển của cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, tư tưởng quân sự, quốc phòng của Người là cơ sở chính trị trực tiếp chi phối đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; trong đó, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam là một trong những thành tố quan trọng. Vì thế, quá trình hoạch định các chiến lược này phải quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh quốc tế; trong đó, cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, việc xác định đối tượng quốc phòng (trong Chiến lược Quốc phòng) và đối tượng tác chiến (trong Chiến lược Quân sự) phải chính xác, nhưng cũng cần hết sức linh hoạt, thể hiện rõ tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, “không gây thù chuốc oán với ai”, triệt để cô lập, phân hóa kẻ thù. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, bối cảnh chiến lược đan xen và chuyển hóa phức tạp hiện nay, việc quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng về đối tác, đối tượng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” cũng chính là vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới.

Hai là, hết sức chú trọng quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng vào xác định quan điểm, nguyên tắc cơ bản của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự cho phù hợp. Trong đó, cần thấu suốt quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Nền quốc phòng dù có hiện đại đến đâu vẫn phải dựa trên nền tảng tư tưởng: “Dân là gốc”, quốc phòng “của dân, do dân, vì dân”. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phải đổi mới cơ chế, chính sách để thu hút nguồn lực của toàn dân tộc tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đó còn là quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự để xác định nội hàm nhiệm vụ phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong từng chiến lược. Trong thời kỳ mới, thế giới, khu vực đã, đang và sẽ xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới, như: tác chiến không gian mạng, sử dụng công nghệ sinh học, na nô, gen, trí tuệ nhân tạo, v.v. Trong bối cảnh đó, việc xác định phương thức tác chiến trong từng hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến chiến lược của Chiến lược Quân sự cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa các yếu tố: lực, thế, thời, mưu với nhau và vẫn phải tiến hành trên nền tảng của chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi thời gian tới, dù Quân đội ta có được hiện đại hóa hơn trước nhiều lần, nhưng so với kẻ địch xâm lược vẫn chưa thể sánh kịp. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu các biện pháp mới để chuẩn bị sẵn sàng vũ trang toàn dân khi chiến tranh xảy ra.

Bốn là, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, việc hoạch định Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đẩy mạnh phát huy nội lực là chủ yếu, kết hợp với tranh thủ nguồn ngoại lực thông qua hợp tác quốc tế, nhằm vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng, vừa tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Để thực hiện quan điểm đó, cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, củng cố quan hệ, xây dựng lòng tin chiến lược với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vững chắc ngay trong từng chiến lược.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng phải được coi là một trong những nội dung quan trọng của Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự. Trong điều kiện mới, cần tiếp tục đổi mới về tổ chức, phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; bổ sung hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hóa nguyên tắc nêu trên. Đi đôi với xây dựng, cần tích cực đấu tranh với luận điệu xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, chống “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân với lực lượng vũ trang.

Sáu là, vấn đề có tính phương pháp luận trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng vào hoạch định Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự là phải sáng tạo, phát triển phù hợp với điều kiện mới; vận dụng và phát triển sáng tạo phải dựa chắc trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn vậy, phải thường xuyên nghiên cứu, học tập, hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu kỹ tư tưởng của Người; học không chỉ để biết mà quan trọng hơn là để vận dụng vào hoạt động thực tiễn một cách khoa học, hiệu quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, quốc phòng là kho tàng quý giá, là nền tảng để hoạch định Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược quân sự Việt Nam thời kỳ mới một cách khoa học, cách mạng nhất. Quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không những đảm bảo cho Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mà còn là cách để Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Thượng tướng NGUYỄN CHÍ VỊNH, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
______
___________

1 - V.I. Lê-nin - Toàn tập, Tập 32, Nxb Tiến bộ, M. 1980, tr. 100.

2 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 398.

3, 4 - Sđd, tr. 217, 218.

5 - Sđd, Tập 8, tr. 216.

6 - Sđd, Tập 15, tr. 314.

7 - Sđd, Tập 5, tr. 158.

8 - Phạm Văn Đồng - Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một sự nghiệp, Nxb ST, H. 1990, tr. 42.

9 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 445.

10 - Sđd, Tập 13, tr. 453.

Ý kiến bạn đọc (0)

 Học tập và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhân kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có bài viết quan trọng đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tạp chí điện tử Quốc phòng toàn dân xin được trích giới thiệu phần nội dung của bài viết nói về thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh,...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 18:04 - 18/12/2017

EUR26511.7826833.87

GBP29908.9930388.5

USD2268022750

Giá vàng

Cập nhật : 15:43 - 18/12/2017

HCMSJC36.32036.520
Hà NộiSJC36.32036.540
Đà NẵngSJC36.32036.540

Thời tiết