QPTD -Thứ Năm, 30/04/2015, 06:05 (GMT+7)
Đại thắng mùa Xuân 1975 - sự kiện khẳng định ý chí thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
Nhân dân Sài Gòn đón mừng đoàn Quân Giải phóng, trưa ngày 30-4-1975.(Ảnh tư liệu)

I

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm trọng thể 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2015), được đánh dấu bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giành toàn thắng,  mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đánh giá về tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện lịch sử đó, Đại hội lần thứ IV của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”1.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là chiến công chói lọi, là thắng lợi vĩ đại của toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó phản ánh nghị lực phi thường của nhân dân ta, đồng thời khẳng định ý chí, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Với thắng lợi oanh liệt đó, nhân dân ta hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc kéo dài liên tục trong 30 năm, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám, tiếp đó là 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và 21 năm bền bỉ đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Thắng lợi đó là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với đất nước ta - kỷ nguyên độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên CNXH.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu keo sơn không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước : Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia anh em. Đó còn là thắng lợi chung của lực lượng XHCN và các dân tộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ trên toàn thế giới đã hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền Sài Gòn.

Thắng lợi đó của cách mạng Việt Nam khẳng định vấn đề có tính chân lý, rằng: một dân tộc đất không rộng, người không đông, tiềm lực vật chất có hạn, nhưng đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh với một ý chí và quyết tâm cao độ, lòng quả cảm phi thường, sức sáng tạo vô tận, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác – Lê-nin, được sự ủng hộ to lớn của các lực lượng cách mạng và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì hoàn toàn có thể đánh thắng mọi kẻ thù.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 diễn ra trong 55 ngày đêm, với tốc độ thần kỳ “một ngày bằng 20 năm”. Với trận quyết chiến chiến lược này, ta đã đánh bại hoàn toàn quân đội ngụy trên 1 triệu tên, do Mỹ dày công tổ chức, nuôi dưỡng trong thời gian dài, được huấn luyện và trang bị với số lượng lớn phương tiện, vũ khí hiện đại và hệ thống phòng thủ, bố trí chiến lược hoàn chỉnh (mạnh hai đầu) ở miền Nam. Cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta có tầm vóc lớn cả về quân sự và chính trị, về không gian và lực lượng, đã giành thắng lợi trong thời gian ngắn, ít tổn thất. Nó thậm chí diễn ra sớm hơn cả ý định ban đầu của ta tới gần 2 năm, gây bất ngờ và kinh hoàng đối với Mỹ-Ngụy, trước sự ngạc nhiên đến sửng sốt của nhiều người trên thế giới và trong nước. Điều đó thể hiện sâu sắc tài thao lược, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược xuất sắc của Đảng ta, nhất là trong việc tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận, tạo thời cơ, nắm thời cơ và hạ quyết tâm cho trận quyết chiến chiến lược để giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất.

Cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 được mở đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên, với trận đột phá then chốt Buôn Ma Thuột điểm đúng huyệt của kẻ thù và sau đó đập tan kế hoạch hòng giành lại địa bàn chiến lược này của chúng, làm cho cuộc rút lui của địch trở thành cuộc tháo chạy hoảng loạn và thất bại thảm hại, để mất Tây Nguyên - địa bàn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chiến lược. Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã tạo bước chuyển mới về chiến lược đối với chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Nắm bắt thời cơ lịch sử đó, Đảng ta quyết định dốc toàn lực cho trận đánh cuối cùng để giành toàn thắng cho cuộc chiến tranh, lập tức mở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, giải phóng hoàn toàn vùng duyên hải miền Trung. Với hai chiến thắng liên tiếp của đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, cục diện chiến tranh có bước phát triển nhảy vọt, có lợi cho ta. Trong thế chiến lược mới được tạo ra, ta hoàn toàn nắm quyền chủ động, áp đảo quân địch cả về lực lượng vật chất và tinh thần, cả quân sự và chính trị. Với thế trận vững, lực lượng mạnh, gồm các binh đoàn chủ lực, các binh chủng và lực lượng vũ trang địa phương đông đảo, rộng khắp, cùng lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng, trong khí thế sục sôi quyết thắng của cả nước, ta bước vào chiến dịch cuối cùng, có ý nghĩa quyết định - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đây là chiến dịch lớn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng, của toàn bộ sự nghiệp chiến tranh giải phóng suốt 30 năm ròng rã của quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng nói chung. Chiến dịch đã diễn ra với quy mô lớn, hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công của lực lượng vũ trang ba thứ quân và lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp, đánh thẳng vào sào huyệt của địch ở Sài Gòn. Thực hiện phương châm chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị“thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, với khí thế mạnh mẽ và sức mạnh tổng hợp vượt trội, quân và dân ta đã thực hành thắng lợi chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một cách xuất sắc, có lợi nhất. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ chiến thắng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập - Phủ Tổng thống Ngụy - toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngay sau đó, các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và các đảo còn lại như Thổ Chu, Côn Đảo, Phú Quốc đã được giải phóng. Cả miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, giang sơn liền một dải từ Móng Cái đến mũi Cà Mau. Nhân dân ta đã thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào và chiến sĩ  cả nước như thấy có bóng hình Bác trong ngày vui Đại thắng.

II

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam, khẳng định ý chí thống nhất đất nước không gì lay chuyển nổi của nhân dân ta, được hun đúc bởi truyền thống chống ngoại xâm qua lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc .

Tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm cao độ đó và cũng là linh hồn của cuộc kháng chiến chính là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố cơ bản nhất, quyết định nhất thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tầm cao trí tuệ, Đảng ta đã đánh giá đúng tình hình, chỗ mạnh chỗ yếu của đế quốc Mỹ, định ra đường lối chiến lược xuyên suốt sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với hai giai đoạn: “đánh cho Mỹ cút” tiến tới “đánh cho Ngụy nhào”; đồng thời, đề ra sách lược cách mạng thích ứng với từng giai đoạn của cuộc kháng chiến. Đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đó của Đảng không những rất phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, mà còn phù hợp với tình hình thế giới trong thời kỳ này. Nó mang đậm tính cách mạng, khoa học, phát huy cao nhất các nhân tố dân tộc và thời đại, kết hợp sức mạnh trong nước và quốc tế. Đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự kế thừa, phát triển ở tầm cao mới, trong điều kiện mới của đường lối độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây.

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH; tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền có quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc, nhằm thực hiện một mục tiêu chung: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên CNXH. Đánh giá, phân tích vị trí, vai trò của hai chiến lược cách mạng ở hai miền, Đảng ta chỉ rõ: “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam quyết định trực tiếp đối với việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, còn cách mạng XHCN ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”2.

Chiến lược chung của Đảng ta suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là chiến lược tiến công, luôn giữ vững thế tiến công trong mọi hoàn cảnh. Đó là chiến lược tiến công toàn diện bằng cả quân sự, chính trị và ngoại giao, cả ở miền Nam và miền Bắc. Chiến lược đó được thực hiện không chỉ trong lúc địch “xuống thang”, mà ngay cả khi địch “leo thang” chiến tranh. Còn nhớ, khi địch đưa quân ồ ạt vào xâm lược ở chiến trường miền Nam bằng chiến tranh cục bộ và đánh phá miền Bắc bằng chiến tranh phá hoại thì Đảng ta với chủ trương nhất quán và thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công đã giáng cho địch những đòn đích đáng. Những trận đánh đầu tiên giành thắng lợi ở Núi Thành, Vạn Tường khẳng định khả năng đánh thắng Mỹ của ta - điều mà không ít người trước đó còn hoài nghi, lo ngại. Ở miền Bắc, quân và dân ta cũng giáng cho không lực Hoa Kỳ những đòn choáng váng, mà đỉnh cao là chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên phủ trên không” cuối năm 1972, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri (27-01-1973). Chiến lược tiến công được thực hiện với phương châm: “đánh bại từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh đổ hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi cuối cùng”. Việc kiên quyết thực hiện chiến lược tiến công, chúng ta đã lần lượt đánh bại các bước leo thang, các chiến lược chiến tranh của Mỹ, từ chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ đến Việt Nam hóa chiến tranh.

Phương pháp cách mạng của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về cơ bản được xác định từ Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (tháng 01-1959). Đó là phương pháp sử dụng cách mạng bạo lực tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng thời, thực hiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy với tiến công, tiến công và nổi dậy; kết hợp đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; trên ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị; kết hợp chặt chẽ chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, đánh địch bằng cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích; thực hiện tác chiến ở các quy mô: đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiến công tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ. Đó còn là sự nhất quán phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm thời cơ để mở những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1971, 1972) thay đổi cục diện chiến tranh, tiến tới thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy (1975) đè bẹp hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi cuối cùng.

Toàn bộ diễn biến của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sự kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân 1975 chứng minh hùng hồn sự đúng đắn của tư tưởng chiến lược tiến công, phương pháp cách mạng, phương châm chỉ đạo chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam hết sức độc đáo và sáng tạo của Đảng ta.

Tiêu biểu cho ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình cháy bỏng, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh ngoan cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đây là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta được hình thành và phát triển qua cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đó tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, thể hiện sâu sắc ở lời khẳng định mang tính chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một lần nữa lòng yêu nước nồng nàn cùng ý chí đấu tranh ngoan cường đó lại được khơi dậy, phát triển mạnh mẽ bằng hành động cụ thể “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, “Nam Bắc là một nhà”, “miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi. Chính lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu quả cảm đã tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng lớn của quân và dân ta - nguồn sức mạnh tuyệt đối của ta so với địch. Tiêu biểu cho ý chí đó, tinh thần và quyết tâm cao độ đó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Một trong những nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự đoàn kết, thống nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân, đoàn kết hai miền Nam-Bắc và đoàn kết quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong hoàn cảnh đất nước tạm chia làm hai miền, thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền với nhiều khó khăn, thử thách. Nhưng, nhờ có sự đoàn kết, thống nhất cao cả về ý chí và hành động, Đảng ta đã phát huy được cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước, kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giành thắng lợi cuối cùng, hoàn thành mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước để lại cho chúng ta cả kho kinh nghiệm quý báu; trong đó, có cả kinh nghiệm thành công và chưa thành công, thậm chí những kinh nghiệm được rút ra từ chưa thành công hoặc thất bại cũng quý không kém những kinh nghiệm đúc kết từ thành công. Điều quan trọng đối với chúng ta hiện nay là, cần tiếp tục nghiên cứu, hội thảo, tổng kết đầy đủ những bài học kinh nghiệm đó để vận dụng có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.

III

Trong thời gian tới, dự báo trên thế giới và khu vực, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố gia tăng. Cục diện thế giới đa cực hình thành ngày càng rõ. Các nước lớn vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, chi phối các quan hệ quốc tế. Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á là khu vực phát triển năng động và là nơi cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn. Tuy ít có khả năng xảy ra chiến tranh, xung đột lớn ở khu vực này, nhưng tranh chấp biển, đảo sẽ gia tăng, không loại trừ khả năng có đột biến. Đối với nước ta, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại,… đạt được những thành tựu quan trọng, tăng cường đáng kể thế và lực của đất nước; vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Nhưng, bên cạnh đó, chúng ta cũng còn hạn chế, yếu kém và những vấn đề phức tạp mới nảy sinh chi phối đến sự phát triển đất nước và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đáng quan tâm là, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá ta cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo bằng những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng ra sức tuyên truyền, kích động, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Trong bối cảnh nêu trên, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta rất nặng nề, có sự phát triển mới, yêu cầu cao, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, có không ít khó khăn, thách thức. Để vượt qua những thách thức đó, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, vấn đề quan trọng hàng đầu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là, phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên định đường lối đổi mới của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là bài học kinh nghiệm rất sâu sắc về đường lối, về sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi, đã được khẳng định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Theo đó, trong tình hình hiện nay, hơn bao giờ hết chúng ta càng phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương. Đặc biệt cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”; trong đó, cần phải nắm vững mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết đã chỉ ra. Về nhận thức tư tưởng, phải thấu suốt quan điểm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch và mọi hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc. Phải kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược, phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực là chính kết hợp với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài thông qua hội nhập, hợp tác quốc tế. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, do đó cần phải xây dựng và phát huy tiềm lực trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ, thường xuyên phối hợp hoạt động quốc phòng với an ninh và đối ngoại.

Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, càng phải quán triệt nắm vững đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế theo Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI). Trên cơ sở nắm vững chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực, sự ủng hộ từ bên ngoài, nhất là với các nước lớn, các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, các nước trong khu vực, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình quan hệ, hợp tác quốc tế cần phải tỉnh táo, nhạy bén và phải nhận thức, đánh giá đúng, phân biệt rõ đối tác, đối tượng để thực hiện một cách linh hoạt vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm thêm bạn, bớt thù và tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.

Để đáp ứng yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải chú trọng tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh của đất nước, đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) về chiều sâu, nhất là trên các địa bàn, hướng chiến lược. Đặc biệt, phải kết hợp các nhiệm vụ, giải pháp cả chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, đồng thời phát huy vai trò của hệ thống chính trị, các tổ chức, lực lượng để xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, qua đó tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.

Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Trong những năm qua, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước, sự giúp đỡ và đồng thuận của nhân dân, việc đẩy mạnh xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” được triển khai theo đúng phương hướng, kế hoạch, lộ trình xác định, đạt được những kết quả quan trọng, thiết thực. Một số lực lượng được ưu tiên đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, góp phần tăng khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Trong thời gian tới, cùng với việc tiếp tục đầu tư cho các lực lượng trên, chúng ta cần nghiên cứu đầu tư, hiện đại hóa cho những binh chủng quan trọng còn lại và các đơn vị bộ đội chủ lực một cách hợp lý. Trước yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, việc xây dựng Quân đội theo hướng hiện đại là cần thiết, thậm chí cấp thiết, nhằm bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh để hoàn thành trọng trách là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này; đồng thời, đó cũng là nguyện vọng chính đáng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi nguồn lực rất lớn từ ngân sách Nhà nước, mà điều đó lại phụ thuộc vào khả năng thực tế của đất nước. Cho nên hiện đại hóa Quân đội là cả quá trình gắn chặt với sự phát triển của đất nước, chứ không thể hoàn thành trong một vài năm. Chúng ta cần thống nhất và quán triệt quan điểm của Đảng về nhân tố và mối quan hệ giữa con người và vũ khí; trong đó, con người là nhân tố quyết định, vũ khí là quan trọng. Trên cơ sở đó, chú trọng xây dựng con người, mà trực tiếp là cán bộ, chiến sĩ có trình độ, năng lực toàn diện, trước hết là bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, khai thác, làm chủ vũ khí, phương tiện kỹ thuật trong biên chế, nhất là vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại mới được trang bị. Chỉ có như vậy mới nâng cao được sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, đảm bảo cho Quân đội phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và là lực lượng xung kích trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh, đồng thời chủ động và tích cực tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Cùng với xây dựng lực lượng thường trực vững mạnh toàn diện, cần coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng dự bị động viên, đưa công tác này vào nền nếp, đạt chất lượng, hiệu quả; phấn đấu rút ngắn dần khoảng cách về chất lượng, khả năng tác chiến giữa lực lượng dự bị động viên và lực lượng thường trực, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng, tập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng chính trị và nghiệp vụ quân sự. Chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt, có cơ cấu thành phần hợp lý, số lượng và tỷ lệ phù hợp; xây dựng và nhân rộng các mô hình đơn vị dân quân tự vệ thường trực, dân quân tự vệ biển, dân quân tự vệ phòng không và tích cực nghiên cứu tổ chức đơn vị tự vệ trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khu công nghiệp, khu chế xuất có đủ điều kiện. Đồng thời, quan tâm và có kế hoạch xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi, sẵn sàng mở rộng lực lượng khi cần thiết.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân vững mạnh là nội dung quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng và là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục vận dụng phù hợp với điều kiện mới để xây dựng lực lượng quan trọng này ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, thực sự xứng đáng là lực lượng tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tướng PHÙNG QUANG THANH

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
____________________

1 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 37, Nxb CTQG, H. 2005, tr. 471.

2 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 37, Nxb CTQG, H. 2005, tr. 490.

Ý kiến bạn đọc (0)

Sài Gòn - Chợ Lớn trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến
Chỉ 3 tuần sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn, thực hiện dã tâm xâm lược nước ta lần thứ hai.
Thông tin tiện ích

Giá vàng

Thời tiết