Sự kiện lịch sử Những ngày kỷ niệm lớn

QPTD -Thứ Bảy, 02/11/2019, 23:06 (GMT+7)
Đồng chí Hoàng Văn Thụ - Người Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ tận tụy, trung kiên, bất khuất

“Việc nước xưa nay có bại thành/Miễn sao giữ trọn được thanh danh/Phục thù chí lớn không hề nản/Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành/Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm/Chí còn theo dõi buổi tung hoành/Bạn hỡi xa gần hăng chiến đấu/Trước, sau xin giữ tấm lòng thành”1 - Đây chính là tinh thần, ý chí của người chiến sĩ cộng sản Hoàng Văn Thụ.

Tượng đài đồng chí Hoàng Văn Thụ ở phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ảnh: baolangson.vn

Đồng chí Hoàng Văn Thụ, người dân tộc Tày, sinh ngày 04-11-1909 tại thôn Phạc Lạn, tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên, nay là thôn Nhân Hòa, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Năm lên 8 tuổi, Đồng chí được bố mẹ cho đi học cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Sau khi đỗ đạt sơ học yếu lược năm 1920, Đồng chí ra thị xã Lạng Sơn tiếp tục theo Trường Tiểu học Pháp - Việt và bắt đầu chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của các nhà cách mạng Việt Nam ở nước ngoài. Năm 1926, sau khi dự Lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Hoàng Văn Thụ cùng với Lương Văn Chi lập ra nhóm thanh niên yêu nước ở Lạng Sơn. Cuối năm 1927 đầu 1928, hai đồng chí sang Trung Quốc bắt liên lạc với đại diện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động ở khu vực Long Châu - Nam Ninh, Trung Quốc và được kết nạp vào Hội. Từ đây, Đồng chí đã nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quan điểm lập trường của giai cấp công nhân, giác ngộ lý tưởng cộng sản và được tổ chức đưa vào làm việc ở xưởng cơ khí Nam Hưng (Quảng Tây). Xưởng này do những người cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc lập ra làm nơi liên lạc, hội họp và sản xuất lấy tiền chi phí cho hoạt động cách mạng. Tại đây, chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng gồm những người cách mạng Việt Nam hoạt động ở biên giới Việt – Trung được thành lập. Lúc đầu, Chi bộ có ba đồng chí: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Vĩnh Tuy, do đồng chí Hoàng Đình Giong làm Bí thư (về sau, Chi bộ này trở thành Ban liên tỉnh ủy lâm thời Cao Bằng - Lạng Sơn).

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930), Đồng chí được phân công phụ trách phát triển phong trào cách mạng ở tỉnh Lạng Sơn. Quá trình gây dựng phong trào, hễ giác ngộ được người nào, đồng chí liền đưa đến hang Áng Cúm (gần Lũng Nghịu) huấn luyện rồi giao nhiệm vụ trở về phát triển tổ chức. Bằng cách đó, cơ sở cách mạng ở Lạng Sơn ngày càng nhiều lên. Đến giữa năm 1930, Đồng chí đã chỉ đạo gây dựng được 03 tổ chức quần chúng trung kiên tại Lũng Nghịu, lan rộng tới các xóm Khưa Đa, Ma Mèo, Tà Lài thuộc xã Tân Yên, châu Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn); đồng thời, tổ chức in tài liệu tuyên truyền giác ngộ quần chúng yêu nước và tổ chức kết nạp đảng viên. Nhờ đó, đến năm 1933, Đồng chí đã thành lập được Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Lạng Sơn và trực tiếp làm Bí thư, đưa phong trào cách mạng không ngừng phát triển rộng khắp ở Văn Uyên.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng nơi đây, thực dân Pháp tăng cường khủng bố khốc liệt những chiến sĩ cộng sản và quần chúng trung kiên, nên từ cuối năm 1934 đến đầu năm 1935, Đồng chí đã đưa các quần chúng trung kiên từ Văn Uyên, Thất Khê sang dự các lớp huấn luyện cách mạng bí mật ở Lũng Nghịu - Long Châu. Các lớp huấn luyện này đã đào tạo được đội ngũ cán bộ nòng cốt cho việc gây dựng, củng cố phong trào cách mạng của tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Cao Bằng. Nhờ sâu sát, kiên trì xây dựng cơ sở, từ năm 1936 đến năm 1939, Đồng chí còn tổ chức kết nạp đảng viên và thành lập được chi bộ Đảng Cộng sản ở Bắc Sơn, Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn); thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Vĩnh Yên; đồng thời, tích cực củng cố phong trào cách mạng ở các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Hải Dương và Quảng Ninh. Đầu mùa thu năm 1939, Xứ ủy Bắc Kỳ họp hội nghị mở rộng, Đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy.

Trên cương vị này, đồng chí Hoàng Văn Thụ luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm cao với công việc, sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ khó khăn nhất. Với tư chất của một cán bộ lãnh đạo năng động, sáng tạo, Đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào đường lối lãnh đạo của Đảng; đề nghị lập tờ báo “Giải phóng” làm cơ quan tuyên truyền của Xứ ủy. Đảm nhận vai trò chủ bút, Đồng chí thường xuyên viết nhiều bài tuyên truyền chủ trương đấu tranh của Đảng, của Xứ ủy Bắc Kỳ với bí danh là Lý. Ngoài ra, Đồng chí còn tham gia chỉ đạo hoạt động tuyên truyền của báo “Cờ giải phóng” và “Tạp chí Cộng sản”. Những bài viết, bài dịch của Đồng chí về lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đã góp phần phổ biến, giác ngộ tinh thần cách mạng vô sản cho đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Đồng chí cùng Ban Thường vụ Xứ ủy đề ra chủ trương duy trì Đội du kích Bắc Sơn để làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng sau này. Thống nhất với đề nghị của Xứ ủy Bắc Kỳ, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (họp từ ngày 06 đến 09-11-1940, tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) đã quyết định tổ chức các đội tự vệ, trực tiếp vũ trang cho dân chúng, tổ chức nhân dân cách mạng quân, tiến lên vũ trang bạo động và giao đồng chí Hoàng Văn Thụ trực tiếp chỉ đạo thành lập căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Cuối tháng 12-1940, Đồng chí vinh dự được Ban Thường vụ Trung ương Đảng giao nhiệm vụ quan trọng đi Tĩnh Tây (Trung Quốc) gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bàn việc tổ chức thống nhất lực lượng cách mạng trong và ngoài nước; đồng thời, xin chỉ thị của Người về việc chuẩn bị tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Sau khi nhận chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đồng chí đã liên lạc với Tỉnh ủy Cao Bằng, tích cực chuẩn bị địa điểm tổ chức Hội nghị.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (họp tại Pắc Bó, Cao Bằng từ ngày 10 đến 19-5-1941), Đồng chí lại được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và sau đó được cử vào Tổng bộ Việt Minh lâm thời, phụ trách công tác binh vận. Những năm 1941 - 1943, với cương vị là ủy viên Ban Thường vụ Trung ương, Đồng chí đã ra sức xây dựng và phát triển phong trào Việt Minh; củng cố, giữ vững cơ sở Đảng và phong trào quần chúng ở những địa phương gặp khó khăn. Khi ở Hà Nội phong trào bị địch ráo riết khủng bố, Đồng chí đã cùng Xứ ủy và Thành ủy lãnh đạo giữ vững những cơ sở còn lại, tích cực củng cố các tổ chức quần chúng, nhờ đó phong trào dần được khôi phục và phát triển trở lại. Khi phong trào cách mạng cả nước ngày càng lên cao, công tác binh vận lại càng trở nên cấp thiết; dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đồng chí, cơ sở binh vận đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi. Nhờ sự sâu sát chỉ đạo của Đồng chí, các cơ sở quần chúng cách mạng trong công nhân, công chức, binh sĩ đã cảm hóa, lôi cuốn được nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau ủng hộ cách mạng, góp phần xây dựng nhiều cơ sở quần chúng ở những địa bàn quan trọng, như: Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Vĩnh Yên, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.

Giữa lúc phong trào cách mạng nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ, ngày 25-8-1943, Đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại ngõ Nam Diệm, khu Tám Mái (Hà Nội). Biết Đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng, Phủ Toàn quyền Đông Dương lệnh cho Sở mật thám Bắc Kỳ tìm cách bắt Đồng chí phải khai ra cơ quan lãnh đạo Trung ương của Đảng. Thoạt tiên, chúng bày trò dụ dỗ, nhưng không đem lại kết quả, sau liền quay sang tra tấn Đồng chí hết sức dã man, đánh đập Đồng chí ở mọi nơi, mọi lúc, từ phòng tra, trên gác đến trong xà lim, trong hầm đá; từ ban ngày đến giữa đêm khuya và lúc gần sáng. Mặc dù, chúng dùng đủ những ngón đòn từ mua chuộc, dụ dỗ một cách tinh vi, áp dụng có hiệu quả nhất đến tra tấn dã mam kéo dài hơn 5 tháng, nhưng vẫn không khuất phục được ý chí, tinh thần kiên trung của đồng chí Hoàng Văn Thụ. Dù thể xác đau đớn do kẻ thù tra tấn, Đồng chí vẫn kiên cường bảo vệ Đảng, bảo vệ đồng chí và động viên anh em cùng bị bắt: “có đau cố gắng chịu, đừng quên Tổ quốc và Đảng”. Đồng chí còn dùng phiên tòa của thực dân Pháp xử mình để luận tội kẻ thù, tuyên truyền đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng; kêu gọi đồng chí, đồng đội nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh bền bỉ, tiêu diệt đế quốc, giải phóng dân tộc.

Bất lực trước khí phách anh hùng của người cộng sản, rạng sáng ngày 24-5-1944, thực dân Pháp đã tử hình Đồng chí tại trường bắn Tương Mai (Hà Nội). Hiên ngang bước đi giữa hai hàng lính lê dương súng ống chỉnh tề, lưỡi lê tuốt trần, Đồng chí nói thẳng vào mặt bọn cố đạo, quan tòa, mật thám: “Tôi không cần nói gì nữa. Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng tôi, những người mất nước và các ông, những kẻ cướp nước, sự hy sinh của những người như tôi là một sự dĩ nhiên. Chỉ biết rằng, cuối cùng chúng tôi sẽ thắng”2. Trước khi ngã xuống, tiếng hô vang của Đồng chí còn át cả tiếng súng của kẻ thù: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!”. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của người Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ trước pháp trường thể hiện rõ khí tiết của người cộng sản trước quân thù, nhưng lại chứa chan tình cảm với đồng bào, đồng chí, niềm tin tất thắng vào cách mạng. Vì thế, mười lăm năm sau ngày hy sinh của Đồng chí, tháng 5-1959, trong bài “Viếng mộ anh Hoàng Văn Thụ”, đồng chí Trường Chinh đã viết:“ Hỡi anh/Người bạn chiến đấu quang vinh/Người cộng sản anh hùng/Đã cảm tử cho Đảng quyết sinh/Anh nằm đây, nhưng chí anh vẫn/Dọc ngang trời đất, bốn biển tung hoành/Anh không chết/Không, anh vẫn sống”3.

Đồng chí Hoàng Văn Thụ ngã xuống khi mới 35 tuổi đời, trong lúc sức khỏe dồi dào, tài năng, trí tuệ đang nở rộ, cùng toàn Đảng toàn dân đang tích cực chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giải phóng dân tộc. Ghi nhận công lao, sự hy sinh anh dũng cho Đảng, Tổ quốc, Đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Liệt sĩ; trên bảng ghi công Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 có tên Hoàng Văn Thụ; xã Nhân Lý quê hương của Đồng chí được đổi thành xã Hoàng Văn Thụ. Hiện nay, Đồng chí yên nghỉ tại Nghĩa trang Mai Dịch, nhưng ở Tương Mai, nơi Đồng chí hy sinh cũng có một nấm mồ và một tượng đài được dựng lên trong tư thế hiên ngang trước quân thù, dũng cảm hy sinh vì tự do cho dân tộc, vì độc lập của Tổ quốc.

Hoàng Văn Thụ - Người cộng sản kiên trung, bất khuất đã đi xa, nhưng câu nói nổi tiếng gần 80 năm trước của Đồng chí vẫn như đang nói với chúng ta hãy yên tâm tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng và tích cực tham gia đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cũng như nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng hiện nay. Đó là, vào những năm 1940-1941, thời điểm địch khủng bố ráo riết, cơ sở Đảng nhiều nơi bị vỡ, làm không ít người hoang mang, dao động, nhưng Đồng chí vẫn tin tưởng: “Chúng ta không lo. Cách mạng đã thấm sâu vào quần chúng rồi. Quân địch cố nhiên không để ta yên. Nhưng quần chúng không thể xa rời cách mạng; chỉ sợ những người lãnh đạo chúng ta xa rời quần chúng…”4. Vì vậy, học tập tinh thần “tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc” và “vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc”5 của đồng chí Hoàng Văn Thụ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần, ý chí của người cách mạng, trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, tích cực xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của đồng chí Hoàng Văn Thụ và sự kỳ vọng của toàn dân tộc.

Đại tá NGUYỄN CÔNG TÂM

_____________

1 - Bài thơ “Nhắn bạn” do Hoàng Văn Thụ sáng tác trước khi ra pháp trường.

2 - Những người Cộng sản, Nxb Thanh niên, H. 1977, tr. 140.

3 - Tấm gương tuổi trẻ Việt Nam - Đồng chí Hoàng Văn Thụ, Nxb Thanh niên, H. 2012, tr. 36-37.

4 - Những người Cộng sản, Nxb Thanh niên, H. 1977, tr. 133.

5 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 25.

Ý kiến bạn đọc (0)

Vững bước theo con đường của Cách mạng Tháng Mười
Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 03:52 - 17/11/2019

EUR25337.5226177.02

GBP29524.9529997.75

USD2314023260

Giá vàng

Thời tiết