Thứ Năm, 10/09/2026, 17:39 (GMT+7)
Bình luận - Phê phán Phòng, chống "DBHB"; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” cho dân tộc Việt Nam. Hơn tám thập niên qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân ta không chỉ giành và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn đưa đất nước bước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Thực tiễn sinh động cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam đi từ độc lập dân tộc đến phát triển thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và quy luật khách quan.
Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trang trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Trải qua hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”1. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh và bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, đối ngoại rộng mở, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng nâng cao. Đến nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang vững vàng tiến bước vào kỷ nguyên phát triển mới để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; và hướng tới “tầm nhìn đến năm 2130, trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn;… có đóng góp xứng đáng cho nhân loại”2. Hành trình đó là sự phát triển tất yếu, do được dẫn dắt bởi sự kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: phải “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; đồng thời, khẳng định đây không chỉ là bài học kinh nghiệm hàng đầu sau 40 năm đổi mới, mà còn là quan điểm chỉ đạo hàng đầu cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới3.
Nhận diện âm mưu, mục tiêu của những thủ đoạn xuyên tạc
Trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước chưa bao giờ ngừng tiến hành các hoạt động chống phá. Họ tập trung tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam; phủ nhận những thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ thường xuyên tạc rằng: Việt Nam tiếp tục kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là “sai lầm”, là “đi ngược với trào lưu thời đại” (!); rằng: hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và Liên Xô - thành trì của chủ nghĩa xã hội - đã không còn, mà Việt Nam vẫn “vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” là “lạc nhịp” (!). Họ rêu rao các mục tiêu phát triển của đất nước đến năm 2030, 2045 và định hướng đến 2130 mà Đảng ta xác định là “ảo tưởng”, “không khả thi” (!). Theo họ, Việt Nam chỉ có thể phát triển hùng cường, một khi “Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo xã hội”, “kiên định đi theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa” và “thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” (!), v.v.
Mục tiêu của những thủ đoạn chống phá đó là nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “bẻ lái” con đường phát triển của cách mạng nước ta đi theo hướng tư bản chủ nghĩa. Mục tiêu xuyên suốt đó của các thế lực thù địch không thay đổi, nhưng trong từng thời điểm cụ thể, các thủ đoạn chống phá này của họ lại được “thay màu, đổi áo” vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đều bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đó và minh chứng rõ hành trình “độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội” không phải là sự lựa chọn cảm tính của Nhân dân ta. Đó là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đầy hy sinh, gian khổ của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hành trình đó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và quy luật phát triển khách quan của thời đại.
Sự lựa chọn khách quan của lịch sử và quy luật phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam
Nhìn lại bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), con đường giải phóng dân tộc của Nhân dân ta “đen tối như không có đường ra”. Các con đường cứu nước, chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ của phong trào Cần Vương, hay của các phong trào theo khuynh hướng tư sản và tiểu tư sản (Đông Du, Duy Tân, Việt Nam Quốc dân Đảng...), dù rất oanh liệt, nhưng đều thất bại, do thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và một giai cấp tiên phong lãnh đạo. Chỉ đến khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, tổ chức ra Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách mạng, thì khi đó cách mạng Việt Nam mới chấm dứt được thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”4.
Từ đây, con thuyền cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới; vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành đường lối cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và là quy luật phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Chánh cương vắn tắt (02/1930) của Đảng Cộng sản Việt Nam, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đã chỉ rõ 02 giai đoạn của cách mạng Việt Nam: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”5. Hai giai đoạn ấy gắn bó chặt chẽ với nhau: độc lập dân tộc là điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là con đường bảo vệ và phát triển thành quả của độc lập dân tộc. Nói về vấn đề này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”6; vì vậy, giành được độc lập rồi, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội; bởi: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”7. Với việc giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới. Đứng trước bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất bản lĩnh nhận thấy, đây không phải là sự sụp đổ của bản thân học thuyết Mác - Lênin hay lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mà là sự sụp đổ của một mô hình giáo điều, xơ cứng, chậm cải cách, phạm nhiều sai lầm trong đường lối lãnh đạo và công tác tổ chức, cán bộ của các chính đảng cầm quyền. Nhận thức rõ điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, với niềm tin vững chắc: “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” và “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”8.
Kiên định với mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn (khởi đầu từ Đại hội VI - 1986), thực hiện thành công mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” - một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo - kết hợp hài hòa giữa các quy luật phổ biến của kinh tế thị trường với bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, giúp Việt Nam vươn lên phát triển mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng. Việc đứng vững và phát triển mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng chính trị lớn nhất của phong trào cộng sản thế giới là minh chứng hùng hồn cho thấy: con đường cách mạng từ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và quy luật phát triển của thời đại.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là thực tiễn sinh động bác bỏ những luận điệu xuyên tạc
Nếu như năm 1945, dưới ách thống trị của lực lượng phát xít, thực dân, phong kiến, 95% dân số Việt Nam mù chữ; kinh tế kiệt quệ, hơn 02 triệu người chết đói; thì ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu “to lớn, có ý nghĩa lịch sử”.
Trên lĩnh vực kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam duy trì ổn định, nhiều năm nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực ASEAN. Năm 2025, quy mô kinh tế đạt trên 514 tỉ USD, đứng thứ tư khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 của nước ta đạt hơn 930 tỉ USD, duy trì xuất siêu 10 năm liên tiếp, khẳng định vị thế trong nhóm 20 nền kinh tế có trị giá thương mại lớn nhất thế giới. Nền kinh tế nước ta cũng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, với việc đã thiết lập quan hệ kinh tế/thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; ký 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm nhiều FTA thế hệ mới; là thành viên của nhiều tổ chức và diễn đàn kinh tế quốc tế lớn. Việc hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn lực, mở rộng thị trường, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh bất định của thương mại toàn cầu; đồng thời, là điều kiện thuận lợi để Việt Nam kết hợp hiệu quả nội lực và ngoại lực, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, 2045 và 2130.
Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội và bảo đảm an sinh, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách”. Trên nền tảng của sự phát triển kinh tế, các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững của Chính phủ được triển khai đồng bộ, hiệu quả với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nhờ đó, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 1,3% năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng, đạt 0,766 điểm năm 2025, thuộc nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 107/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2% dân số vào năm 2025; tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 40 tuổi năm 1945 lên 74,8 tuổi năm 2025. Nền giáo dục của Việt Nam cũng có sự phát triển vượt bậc, với một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, từ mầm non đến đại học. Mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập tiểu học đã hoàn thành vào năm 2000; phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi với tỷ lệ đến trường gần 99% vào năm 2017. Học sinh Việt Nam thường xuyên đạt thứ hạng cao tại các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế (Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin học) cùng nhiều giải thưởng khoa học kỹ thuật toàn cầu.
Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đúng như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”9. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững. Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường, vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng được củng cố, gắn kết chặt chẽ với “thế trận lòng dân”, đảm bảo giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
Năm 1945, nước ta còn là “một xứ thuộc địa, nửa phong kiến”, không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay đã là một quốc gia độc lập, có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia trên thế giới, gồm tất cả 193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc; trong đó có 43 đối tác chiến lược và toàn diện, gồm tất cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và đang đảm nhiệm Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc lần thứ ba, nhiệm kỳ 2026 - 2028. Bên cạnh đó, tính đến tháng 5/2026, Việt Nam đã cử 1.358 lượt sĩ quan và nhân viên thuộc lực lượng Quân đội và Công an tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại các phái bộ và trụ sở chính, khẳng định hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Những thực tiễn nói trên của Việt Nam không chỉ thuyết phục người dân trong nước mà còn nhận được sự công nhận của bạn bè quốc tế. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres trong chuyến thăm chính thức đến Việt Nam và tham dự Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng từ ngày 24 đến 25/10/2025, đã nhấn mạnh: “Việt Nam là hình mẫu của một dân tộc đã vượt qua chiến tranh, trở thành một trong những câu chuyện phát triển thành công trên thế giới”; coi Việt Nam là minh chứng sống động cho con đường hòa bình, phát triển và là một “trụ cột của chủ nghĩa đa phương”10. Trong cuộc trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ông Veeramalla Anjaiah, nhà nghiên cứu cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (CSEAS) có trụ sở tại Jakarta, Indonesia nhấn mạnh: “Việt Nam là ví dụ điển hình cho thấy cải cách từng bước, ổn định chính trị và tầm nhìn dài hạn có thể tạo ra tăng trưởng bền vững và bao trùm”. Ông còn khẳng định: “Những gì đã đạt được trong bốn thập niên qua cho thấy Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tự tin bước vào một kỷ nguyên phát triển mới”11.
Với vị thế, tiềm lực của đất nước ngày càng được tăng cường; với quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị khóa XIII và XIV12; với các giải pháp đột phá, có tính khả thi cao trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các đại hội tiếp theo của Đảng, chắc chắn các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, 2045 và tầm nhìn đến năm 2130 sẽ trở thành hiện thực.
Nhìn lại chặng đường 81 năm kể từ Ngày Tết Độc lập đầu tiên (02/9/1945), chúng ta càng trân trọng và tự hào về con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Lịch sử đã chứng minh thực tiễn không thể lay chuyển: chỉ có độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phát triển hùng cường, phồn vinh, văn minh và Nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch dù có tinh vi đến đâu, cũng chỉ như “dã tràng xe cát”, không thể ngăn nổi dòng chảy lịch sử, mang tính tất yếu “từ độc lập dân tộc đến phát triển hùng cường” của dân tộc Việt Nam.
Dưới cờ Đảng quang vinh, phát huy tinh thần bất diệt của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, tiếp tục giương cao ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, giữ vững niềm tin sắt đá vào tương lai tươi sáng của dân tộc; dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đó là nền tảng vững chắc để đưa đất nước tự tin tiến bước trong “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, thực hiện thành công khát vọng “trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển hùng cường, trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc”.
NGUYỄN NGỌC HỒI _______________
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 64.
2 - ĐCSVN – Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
3 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, tr. 73 - 81.
4 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 30.
5 - Sđd, Tập 3, tr. 01.
6 - Sđd, Tập 4, tr. 64.
7 - Sđd, Tập 12, tr. 563.
8 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 69 - 70.
9 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 104.
10 - Xem: “Tổng Thư ký Liên hợp quốc: Việt Nam phát huy tiếng nói mạnh mẽ góp phần giải quyết thách thức toàn cầu”, https://www.vietnamplus.vn/tong-thu-ky-lhq-viet-nam..., ngày 26/10/2025.
11 - Đỗ Quyên - Chuyên gia quốc tế: Việt Nam là ví dụ điển hình của tăng trưởng bền vững và bao trùm, https://daibieunhandan.vn/chuyen-gia-quoc-te-viet-nam-la-vi-du-dien-hinh, ngày 14/01/2026.
12 - Các nghị quyết Bộ Chính trị khóa XIII: số 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72, 79, 80; các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIV: số 10, 18, 19, 20, 21, 22, 23 và các nghị quyết tiếp theo trong nhiệm kỳ Đại hội.
Độc lập dân tộc,phát triển hùng cường,hành trình tất yếu,cách mạng Việt Nam,quy luật khách quan
Xây dựng hệ sinh thái số - phương thức mới trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 09/09/2026
“Tình dân tộc, nghĩa đồng bào” - giá trị thiêng liêng không thể phủ nhận 08/09/2026
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 - khát vọng độc lập và giá trị lịch sử không thể xuyên tạc 17/08/2026
Không thế lực nào có thể chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta 13/08/2026
Nâng cao năng lực phản biện - chìa khóa để cán bộ, chiến sĩ Quân đội không bị động, bất ngờ trên không gian mạng 11/08/2026
“Núp bóng” văn học, nghệ thuật - thủ đoạn tinh vi nhằm xuyên tạc lịch sử và thành tựu cách mạng 24/07/2026
Không thể xuyên tạc quan điểm “người trước, súng sau” trong xây dựng Quân đội hiện đại 13/07/2026
Phản bác các luận điệu xuyên tạc quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước 09/07/2026
Bác bỏ luận điệu: giáo dục quốc phòng và an ninh là công cụ để “quân sự hóa” học sinh, sinh viên 29/06/2026
Hội nghị rút kinh nghiệm viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” năm 2026 19/06/2026
Nâng cao năng lực phản biện - chìa khóa để cán bộ, chiến sĩ Quân đội không bị động, bất ngờ trên không gian mạng
Không thế lực nào có thể chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 - khát vọng độc lập và giá trị lịch sử không thể xuyên tạc
“Tình dân tộc, nghĩa đồng bào” - giá trị thiêng liêng không thể phủ nhận
Xây dựng hệ sinh thái số - phương thức mới trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Từ độc lập dân tộc đến phát triển hùng cường - hành trình tất yếu của cách mạng Việt Nam