Bình luận - Phê phán Quốc phòng, quân sự nước ngoài

QPTD -Thứ Hai, 06/06/2011, 16:44 (GMT+7)
Phương châm kết hợp kinh tế với quốc phòng của một số nước ASEAN

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp với những mức độ khác nhau, các nước ASEAN rất chú trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng; coi đây là yêu cầu khách quan, một phương châm chiến lược đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, các nước ASEAN đang đẩy nhanh tốc độ thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN (dựa trên 3 trụ cột: kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa - xã hội) vào năm 2015; tạo nền tảng để ASEAN liên kết chặt chẽ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của Khối trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Bên cạnh những mặt thuận lợi: là một khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng, giầu tiềm năng, đang phát triển năng động vào hàng bậc nhất của thế giới, nhiều nền kinh tế liên tục đạt được mức tăng trưởng cao..., các nước ASEAN cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Đó là, chịu tác động nặng nề của hậu khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới; sự cạnh tranh quyết liệt giành quyền ảnh hưởng ở khu vực của các cường quốc; một số "điểm nóng" chưa được giải quyết; tình trạng tranh chấp trên Biển Đông, các hoạt động khủng bố, ly khai cùng nhiều mối đe dọa phi truyền thống khác... có chiều hướng gia tăng, là những nguy cơ đe dọa đến an ninh, ổn định của các nước và khu vực. Trong bối cảnh đó, cùng với việc tập trung phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), các nước ASEAN cũng chú trọng củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc gia; coi đây là hai mặt có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với nhau, không thể xem nhẹ bất cứ mặt nào. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, tinh thần để củng cố quốc phòng vững chắc; ngược lại, quốc phòng vững chắc lại tạo môi trường ổn định cho kinh tế phát triển. Để kết hợp kinh tế với quốc phòng đạt hiệu quả, mỗi nước có chủ trương, biện pháp riêng, tùy vào điều kiện cụ thể về KT-XH, khoa học-công nghệ và các mặt khác của nước mình; song về tổng thể, có thể thấy nổi lên một số hướng chính sau:

Một là, nâng cao vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước; trong đó, nhấn mạnh việc hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực bộ máy chính quyền, vai trò của các bộ, ngành, địa phương trong hoạch định chiến lược và tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch, dự án kết hợp kinh tế với quốc phòng. Theo giới chức của các nước ASEAN, phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng đều là các lĩnh vực trọng yếu của đất nước, vì thế kết quả của việc thực hiện kết hợp giữa hai mặt này có quan hệ trực tiếp đến sự thịnh suy của quốc gia. Mặt khác, việc kết hợp đó liên quan ở những mức độ khác nhau tới mọi cấp, bộ, ngành, địa phương và là công việc vừa cấp thiết, vừa có tính chiến lược lâu dài. Do đó, Nhà nước phải giữ vai trò quản lý thống nhất, thông qua việc hoạch định các chiến lược, chương trình, kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các chiến lược, chương trình, kế hoạch này phải nằm trong chiến lược tổng thể của quốc gia, đảm bảo mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế, an sinh xã hội của đất nước; đồng thời, cũng phải thỏa mãn các yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, đảm bảo an ninh quốc gia trước bất kỳ mối đe dọa nào. Cùng với đó, một số nước cũng chú trọng xây dựng hệ thống các luật, thiết chế nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, điều hành của Nhà nước; tạo cơ sở để các cấp, các ngành tổ chức triển khai việc kết hợp này đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu mà Nhà nước đề ra; nâng cao năng lực của bộ máy Nhà nước làm công tác quản lý đối với lĩnh vực này. In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po thành lập các ủy ban chuyên trách của Chính phủ và của các bộ, ngành, địa phương; có nhiệm vụ hoạch định các chiến lược, chương trình, kế hoạch và tổ chức triển khai, thực hiện, kiểm tra, giám sát việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lĩnh vực được giao. Cơ quan chuyên trách của Bộ Quốc phòng có vai trò là cầu nối giữa các ngành kinh tế với quân đội; thường xuyên thông báo các chương trình, kế hoạch phát triển vũ khí, trang bị, khoa học-kỹ thuật và công nghệ, các dịch vụ đảm bảo hậu cần, kỹ thuật quân sự..., mà quân đội có thể khai thác từ thị trường dân sự để các doanh nghiệp, các nhà thầu dân sự nghiên cứu, tham gia đấu thầu và cung ứng cho quân đội. Cơ quan này cũng có trách nhiệm lựa chọn đối tác, thực hiện kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đề ra và thanh lý hợp đồng với các nhà thầu. Ngoài ra, Chính phủ các nước ASEAN cũng đề ra các yêu cầu, tiêu chí cụ thể buộc quan chức các cấp của các bộ, ngành, địa phương phải thường xuyên nắm chắc các chủ trương, chính sách kết hợp kinh tế với quốc phòng của Nhà nước để quản lý, điều hành bộ, ngành, địa phương mình thực hiện đạt mục tiêu đề ra.   

Hai là, thực hiện việc chuyển giao công nghệ giữa các ngành dân sự và quân sự; chú trọng phát triển các ngành lưỡng dụng vừa phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, dân sinh, vừa phục vụ cho mục đích quốc phòng, quân sự. Nếu như trước đây, ngành công nghệ quân sự được coi là "bí mật quốc gia", phát triển tương đối khép kín đối với các ngành dân sự; thì nay, việc chuyển giao công nghệ giữa các ngành dân sự và quân sự đã trở nên phổ biến hơn và là một hướng đi mới mà các nước, trong đó có các nước ASEAN tích cực áp dụng. Hướng đi này là một tất yếu khách quan, bởi sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ mới, mà cốt lõi là tin học và công nghệ thông tin; và đó cũng là giải pháp đem lại những lợi ích không nhỏ cho các ngành dân sự, quân sự và đất nước. Theo tính toán của chuyên gia quân sự nhiều nước ASEAN, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin, công nghệ siêu dẫn, công nghệ chính xác, công nghệ sinh học, công nghệ hóa học… của các ngành dân sự để chế tạo, hiện đại hóa vũ khí, trang bị, nhất là cho hệ thống thông tin, chỉ huy, kiểm soát, máy tính, trinh sát (C4I)..., cho phép quân đội (Nhà nước) giảm từ 10% đến 45% giá thành nghiên cứu, chế tạo các trang bị cùng loại, tiết kiệm được thời gian và hạn chế đáng kể mức độ rủi ro kỹ thuật. Một mặt quan trọng khác là việc chuyển giao khoa học-kỹ thuật, công nghệ giữa dân sự và quân sự, tạo ra sự liên kết có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau giữa các ngành dân sự và quân sự phát triển, cùng có lợi. Các sản phẩm công nghệ cao của các ngành dân sự góp phần hiện đại hóa vũ khí, trang bị của quân đội thu được kết quả tốt hơn; ngược lại, việc hiện đại hóa vũ khí, trang bị quân sự lại tạo động lực thúc đẩy các ngành kỹ thuật dân sự tiếp tục cải tiến và phát triển, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ quân sự, phòng thủ đất nước. Hiện nay, tùy vào điều kiện cụ thể, các nước ASEAN áp dụng nhiều phương thức chuyển giao công nghệ giữa quân sự và dân sự khá đa dạng, linh hoạt. Nổi lên là các phương thức: chuyển giao "nhân rộng", nghĩa là tiến hành chuyển giao những công nghệ then chốt, mũi nhọn, để từ các công nghệ đó nghiên cứu phát triển, nhân rộng; thuê chuyên gia, nhân viên chuyên môn kỹ thuật tay nghề cao có thời hạn; liên doanh, liên kết nghiên cứu, sản xuất; đấu thầu "chìa khóa trao tay", nghĩa là thuê bao trọn gói các sản phẩm hoặc dịch vụ;... Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhất là hợp đồng các sản phẩm, dịch vụ quân sự, ngoài những yêu cầu chặt chẽ về tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật, thời gian..., thì các nước cũng đặc biệt coi trọng đảm bảo nghiêm ngặt các yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự, bí mật quốc gia.

Đối với các ngành kinh tế dân sự có tính lưỡng dụng cao, như giao thông vận tải, hàng hải, hàng không, chế tạo máy, thông tin-truyền thông, y tế, giáo dục-đào tạo..., bên cạnh việc lập quy hoạch, dự án đảm bảo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của ngành, các nước ASEAN cũng chú trọng nghiên cứu để các quy hoạch, dự án này cũng đảm bảo được các yêu cầu về quốc phòng, quân sự của quốc gia; đồng thời, lập các kế hoạch động viên quốc phòng, đảm bảo sẵn sàng chuyển một phần hoặc phần lớn các ngành này sang phục vụ nhu cầu quân sự khi có chiến tranh xảy ra.

Ba là, nâng cao năng lực của ngành công nghiệp quốc phòng (CNQP) trong sản xuất, chế tạo vũ khí, trang bị quân sự và tham gia phát triển KT-XH và xuất khẩu. Các nước ASEAN cho đây là một hướng phát triển có tính chiến lược đối với ngành CNQP trong tình hình mới. Theo đó, các nước chú trọng điều chỉnh tổ chức biên chế, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư, hiện đại hóa các trang thiết bị..., nâng cao năng lực của ngành CNQP trong nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị có trình độ công nghệ cao và góp phần tích cực vào phát triển KT-XH của đất nước. Một số nước ASEAN  bên cạnh việc tổ chức các cơ sở CNQP nòng cốt chuyên sản xuất hàng quân sự, cũng chuyển một số cơ sở CNQP sang sản xuất hàng lưỡng dụng quân sự và dân sự, hàng dân sinh, phục vụ cho phát triển KT-XH của đất nước và xuất khẩu. Để các cơ sở CNQP sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả trong thị trường dân sự, các nước ASEAN chú ý thực hiện các chính sách ưu đãi về vốn đầu tư, nguồn nhân lực, trang thiết bị, đổi mới công tác quản lý cho phép các cơ sở CNQP nâng cao khả năng tự chủ trong hoạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường; chủ động hoạch định chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh; khai thác mở rộng thị trường; cải tiến, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng; từ đó tăng thu nhập, lãi suất, tích lũy, tạo đà để tiếp tục phát triển. Trong bối cảnh ASEAN đang đẩy nhanh việc liên kết trong nội Khối và với bên ngoài, nhất là thành lập các khu vực mậu dịch tự do (AFTA) với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế lớn khác, một hướng cũng được nhiều nước ASEAN chú trọng là sáp nhập các cơ sở CNQP thành các tập đoàn, các tổ hợp CNQP nhằm nâng cao khả năng nghiên cứu, chế tạo và năng lực cạnh tranh ở thị trường trong nư­ớc và quốc tế. Các nước Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po hiện có nhiều tập đoàn, tổ hợp CNQP được xếp vào hàng hiện đại ở khu vực và quốc tế. Các tập đoàn, tổ hợp CNQP này được trang bị hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt hàng quân sự, hàng lưỡng dụng quân sự và dân sự được ưa chuộng ở thị trường trong nước và nước ngoài, xuất khẩu được nhiều sản phẩm, thu về những khoản ngoại tệ mạnh rất lớn cho quân đội và Nhà nước. Trong quá trình tham gia thị trường khu vực và quốc tế, các cơ sở CNQP các nước này rất chú ý một yêu cầu có tính nguyên tắc là phải xác định rõ “mục tiêu”, lộ trình và bước đi thích hợp, phù hợp với khả năng kinh tế, trình độ khoa học-công nghệ của đất nư­ớc, mục đích chính trị-quân sự đặt ra, nhất là đảm bảo tính tự chủ, không để rơi vào các "bẫy công nghệ" của nước ngoài, đảm bảo hội nhập thành công, góp phần tăng cường quốc phòng và phát triển kinh tế của đất nước.

MINH ĐỨC

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Nhìn lại cục diện chính trị, quân sự thế giới năm 2025
Nét nổi bật của cục diện chính trị, quân sự thế giới năm 2025 là xu hướng không thể đảo ngược của trật tự thế giới hướng tới đa cực và sự cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc. Cùng với đó là diễn biến đáng lo ngại từ các cuộc xung đột: Nga - Ukraine, Israel - Iran, Ấn Độ - Pakistan,… và nguy cơ Mỹ can thiệp quân sự vào Venezuela đang đặt ra những thách thức lớn về an ninh và ổn định toàn cầu.