Thứ Hai, 15/06/2026, 16:21 (GMT+7)
Nghiên cứu - Tìm hiểu Lịch sử Quân sự Việt Nam
Chiến dịch Đắk Tô I là một trong những chiến dịch tiêu biểu của quân và dân ta trên chiến trường Tây Nguyên; tiêu hao lớn sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Thắng lợi của Chiến dịch đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch trong tác chiến tiến công địch ngoài công sự ở địa hình rừng núi, nổi bật là nghệ thuật tạo lập thế trận.
Cuối năm 1967, cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy trên chiến trường miền Nam thất bại, chúng tiếp tục tăng thêm quân, điều chỉnh thế bố trí chiến lược, thực hiện mưu đồ mở cuộc phản công lần thứ ba1. Trên chiến trường Tây Nguyên, khi phát hiện ta chuẩn bị mở chiến dịch ở Bắc Kon Tum, Mỹ chỉ đạo Sư đoàn 4 nhanh chóng kết thúc cuộc hành quân Mác Ác-tơ (MacArthur), cơ động về hoạt động ở khu vực Đắk Tô. Tại đây, Sư đoàn 4 đã thiết lập sở chỉ huy hành quân và hình thành hai cụm quân, hòng biến Đắk Tô thành căn cứ quân sự mạnh trên tuyến phòng thủ cơ bản ở Bắc Tây Nguyên.
Về ta, quán triệt nhiệm vụ do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh giao, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã tập trung lực lượng2, phương tiện quyết định mở chiến dịch Đắk Tô I nhằm tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ - ngụy, thu hút lực lượng chủ lực cơ động của địch lên Tây Nguyên, tạo điều kiện cho các chiến trường phối hợp tác chiến, đẩy mạnh tiến công trên toàn miền Nam. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo cùng nghệ thuật tác chiến linh hoạt, ta đã gây cho địch tổn thất nặng nề về lực lượng và phương tiện, khiến địch phán đoán sai hoạt động tác chiến chiến lược tiếp theo của ta.
Thắng lợi của Chiến dịch không chỉ khẳng định sự trưởng thành của lực lượng vũ trang ta trên chiến trường Tây Nguyên, mà còn để lại nhiều bài học đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch, nhất là nghệ thuật tạo lập thế trận đánh địch ngoài công sự ở địa hình rừng núi, được thể hiện trên một số vấn đề sau:
Một là, xác định đúng các khu vực tác chiến chiến dịch - cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch tác chiến, tổ chức, bố trí lực lượng và chuẩn bị chiến trường. Nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã xác định khu vực tác chiến chủ yếu ở Tây Nam Đắk Tô (từ Ngọk Bờ Biêng qua Ngọk Kom Liệt đến Nam điểm cao 875). Đây là quyết định thể hiện tư duy quân sự sắc bén và nghệ thuật chọn địa bàn tác chiến của Bộ Tư lệnh và cơ quan Chiến dịch. Bởi khu vực này có địa hình hiểm trở, với nhiều dãy núi cao có giá trị cả về chiến thuật và chiến dịch, nhất là dãy Ngọk Bờ Biêng (cao 1.262 m, cách Đắk Tô khoảng 07 km); “Nếu ta chiếm được dãy điểm cao này thì toàn bộ thung lũng Đắk Tô sẽ nằm trong tầm khống chế của hỏa lực pháo binh”3. Mặt khác, trong giai đoạn này, địch vẫn đang đẩy mạnh chiến lược “tìm diệt”, nếu ta sử dụng lực lượng hợp lý và tác động đủ lớn để khêu ngòi, chắc chắn địch sẽ cơ động ra phản kích. Bên cạnh đó, các điểm cao 782, 823, 875,… rất có giá trị chiến thuật, khi ta tổ chức các chốt, cụm chốt phòng ngự tại đây sẽ giành được ưu thế khi tác chiến, buộc địch phải tiến công từ dưới thấp lên.
Không chỉ vậy, địa hình khu vực Đắk Tô có nhiều thung lũng, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh, hạn chế khả năng địch phản kích bằng cơ giới, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng, phương tiện đánh địch phản kích bằng đường bộ và đổ bộ đường không. Mặt khác, đây là khu vực ta chưa từng tiến hành các hoạt động tác chiến quy mô lớn, nên chọn hướng này mở chiến dịch sẽ tạo được yếu tố bất ngờ. Thực tiễn cho thấy, việc chọn Tây Nam Đắk Tô là khu vực tác chiến chủ yếu đã hạn chế được sức mạnh của địch, khiến chúng phải triển khai lực lượng theo từng cụm nhỏ trên các điểm cao, ưu thế hỏa lực và trực thăng vận không thể phát huy hiệu quả như ở địa hình trung du và đồng bằng. Ngược lại, các lực lượng của ta phát huy được tối đa khả năng, cách đánh sở trường. Bên cạnh xác định Tây Nam Đắk Tô là khu vực tác chiến chủ yếu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn chọn Đông Bắc Đắk Tô là khu vực tác chiến thứ yếu và Gia Lai, Đắk Lắk là hướng nghi binh, phối hợp nhằm thu hút, phân tán, căng kéo lực lượng địch trên toàn chiến trường Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho hướng tiến công chủ yếu.
Đúng như dự kiến, khi ta sử dụng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 và 02 khẩu pháo 75 mm bố trí ở Ngọk Bờ Biêng bắn vào sân bay Đắk Tô 2 để khêu ngòi chiến dịch, địch lập tức sử dụng lực lượng của Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 quân Mỹ đổ bộ đường không xuống chiếm điểm cao 882, Ngọk Dơ Lang để phản kích nhưng bị đánh thiệt hại nặng nề. Có thể khẳng định, việc xác định đúng khu vực tác chiến, nhất là khu vực tác chiến chủ yếu đã tạo điều kiện để ta xây dựng kế hoạch tác chiến khoa học; tổ chức, sử dụng, bố trí lực lượng và thiết bị chiến trường hợp lý; tạo lập thế trận chiến dịch vững chắc, hiểm hóc. Qua đó, giữ vững quyền chủ động từ đầu, buộc địch phải đánh theo ý định của ta, nâng cao hiệu suất tác chiến.
Hai là, tổ chức các “khu chiến” và sử dụng lực lượng hợp lý. Nắm được đặc điểm phản kích của địch là thường sử dụng lực lượng từ nhỏ đến vừa, sau đó mới dùng lực lượng mạnh; quy luật và thủ đoạn đổ bộ đường không bằng máy bay trực thăng là “quây vùng rộng”, “nhảy cóc sâu” vào bên sườn, phía sau đội hình của đối phương, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức các “khu chiến” phù hợp, nhằm hình thành thế trận hiểm hóc, liên hoàn, có chiều sâu. Trong đó, khu chốt Chiến dịch ở Ngọk Bờ Biêng, Ngọk Tang,… do Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 và 01 đại đội pháo 75 mm đảm nhiệm; có nhiệm vụ khêu ngòi, uy hiếp và buộc địch phải ra phản kích, tạo thời cơ để ta tiêu diệt chúng ngoài công sự. Khu chiến thứ nhất (khu trung tuyến), nằm ngay sát khu chốt Chiến dịch, ở các điểm cao 782, 843,... do Trung đoàn 320 đảm nhiệm, có nhiệm vụ đánh địch phản kích, điều khiển, dẫn dụ, buộc địch sử dụng lực lượng phản kích lớn hơn vào sâu trong trận địa của ta. Khu chiến thứ hai (khu quyết chiến) ở Ngọk Kom Liệt, Bãi Le, điểm cao 875,… do Trung đoàn 66 và Trung đoàn 174 đảm nhiệm; trong đó điểm cao 875 được xác định là nơi dự kiến diễn ra trận then chốt quyết định.
Việc tổ chức các khu chiến trong khu vực tác chiến chủ yếu đã cho thấy tư duy nhạy bén và nghệ thuật tạo lập thế trận đặc sắc của Bộ Tư lệnh và cơ quan Chiến dịch. Mỗi khu chiến có nhiệm vụ khác nhau, nhưng liên kết chặt chẽ, hỗ trợ, thúc đẩy chiến dịch phát triển theo ý định thống nhất; từng bước dẫn, dụ quân địch vào thế bất lợi. Khi khu chốt chiến dịch thực hiện nhiệm vụ khêu ngòi, uy hiếp, buộc địch phải phản kích sẽ tạo điều kiện cho hoạt động ở khu chiến thứ nhất; khu chiến thứ nhất vừa bảo vệ khu chốt, vừa tạo thế cho khu chiến thứ hai (khu quyết chiến) thực hiện trận then chốt quyết định. Thực tiễn, khi Chiến dịch diễn ra, trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu đoàn 6) ở phía Đông và Đông Bắc Đắk Tô đã trực tiếp tiêu hao sinh lực địch, uy hiếp Tân Cảnh, khống chế đường 14; trên hướng nghi binh, phối hợp, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk đánh căng kéo, thu hút, buộc địch phải phân tán lực lượng, nên khi ta thực hành tiến công, địch không thể tập trung ưu thế lực lượng ở khu vực tác chiến chủ yếu. Với việc tổ chức các khu chiến và sử dụng lực lượng hợp lý, ta đã tạo lập được thế trận chiến dịch sâu, hiểm, liên hoàn, nhiều lớp; có lực lượng đánh khêu ngòi, lực lượng đánh địch ở khu trung tuyến, lực lượng đánh ở khu quyết chiến và lực lượng dự bị. Trong quá trình tác chiến, các lực lượng của ta luôn giữ vững thế chủ động, phát huy được sở trường, hoạt động tác chiến diễn ra nhịp nhàng, hiệu quả. Ngược lại, địch bị động, bất ngờ ngay từ đầu và trong suốt quá trình tác chiến, liên tục bị bao vây, chia cắt, phải phân tán binh lực, hỏa lực, dẫn tới thất bại.
Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật. Trong Chiến dịch Đắk Tô I, nghệ thuật chiến dịch có bước phát triển, thúc đẩy phát triển chiến thuật với nhiều hình thức mới, nổi bật là chiến thuật phòng ngự giữ chốt và vận động tiến công kết hợp chốt. Trước đối tượng tác chiến có ưu thế về khả năng cơ động và chi viện hỏa lực, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24 xây dựng hệ thống công sự vững chắc ở khu chốt của Chiến dịch; mỗi điểm cao tổ chức thành một cụm do 01 đại đội chốt giữ, trong cụm có các điểm chốt cấp trung đội và tiểu đội. Nhờ tổ chức cụm chốt liên hoàn, vững chắc, nên khi Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 quân Mỹ tiến công vào trận địa đã bị đánh thiệt hại nặng, buộc chúng phải điều thêm Lữ đoàn dù 173 vào tham chiến.
Bên cạnh đó, Chiến dịch đã phát triển hình thức “vận động tiến công” thành “vận động tiến công kết hợp chốt”. Hình thức chiến thuật này là sự kết hợp tác chiến giữa lực lượng phòng ngự giữ chốt và lực lượng cơ động tiến công; trong đó phòng ngự giữ chốt không chỉ có tác dụng phòng ngự đơn thuần, mà còn ghìm giữ, giam chân, tạo thế và thời cơ cho vận động tiến công đạt hiệu quả cao. Việc sử dụng hình thức chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt” đã giúp các đơn vị tham gia chiến đấu chủ động lựa chọn không gian trận đánh, lập mưu, bày thế, chủ động kéo địch vào không gian tác chiến đã dự kiến, tạo nên thế trận và thời cơ tốt để tiêu diệt. Thực tiễn, trong trận then chốt quyết định ở điểm cao 875, đối phương sử dụng 02 tiểu đoàn của Trung đoàn 503, Lữ đoàn dù 173 quân Mỹ và một số lực lượng biệt kích, thám báo tiến công theo hai hướng đều bị chốt phòng ngự của ta ở đây đánh bật trở lại, tạo thời cơ để Trung đoàn 174 vận động tiến công vào bên sườn, phía sau đội hình, tiêu diệt hàng trăm lính Mỹ và thu nhiều phương tiện kỹ thuật, giành thắng lợi cho trận then chốt quyết định.
Chiến dịch Đắk Tô I đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của nghệ thuật chiến dịch trong đánh địch ngoài công sự ở địa hình rừng núi; chuyển từ tư duy đợi địch lọt vào thế trận để đánh sang chủ động tạo thế, điều địch, dụ địch vào thế trận đã chuẩn bị sẵn. Những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị về lý luận, thực tiễn, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Đại tá, TS. LÊ VĂN TƯỜNG, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10, Quân đoàn 34 ______________________
1 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam – Một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 2, Nxb QĐND, H. 2021, tr. 189.
2 - Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: Sư đoàn Bộ binh 1 (03 trung đoàn: 66, 174, 320); Trung đoàn 24; Tiểu đoàn ĐKB của Mặt trận và lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk.
3 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam – Một số chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 2, Nxb QĐND, H. 2021, tr. 188.
Tạo lập thế trận,Chiến dịch Đắk Tô I,chiến trường Tây Nguyên,nghệ thuật chiến dịch,tác chiến tiến công địch,ngoài công sự
Nghệ thuật nghi binh, tạo thế trong trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426 29/05/2026
Nghệ thuật đánh điểm, diệt viện trong Chiến dịch Bắc Phú Yên năm 1966 23/04/2026
Nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 09/03/2026
Nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ trong Chiến dịch Tây Sơn Tịnh năm 1966 11/02/2026
Nghệ thuật đánh thắng trận mở đầu trong Chiến dịch Bắc Bình Định năm 1966 22/01/2026
Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Hiệp Đức - Đồng Dương năm 1965 29/12/2025
Nghệ thuật đánh trận then chốt mở đầu trong Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng năm 1965 17/11/2025
Những quyết sách xây dựng quân đội, bảo vệ giang sơn, bờ cõi thời Lê Sơ 23/10/2025
Bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Biên giới 1950 18/09/2025
Nghệ thuật tạo, lập và chuyển hóa thế trận trong Chiến dịch tiến công Lộc Ninh năm 1967 28/08/2025
Nghệ thuật nghi binh, tạo thế trong trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426
Nghệ thuật tạo lập thế trận trong Chiến dịch Đắk Tô I