Thứ Sáu, 29/05/2026, 21:44 (GMT+7)
Nghiên cứu - Tìm hiểu Lịch sử Quân sự Việt Nam
Cuối năm 1426, tại Tốt Động - Chúc Động, nghĩa quân Lam Sơn tổ chức mai phục, đánh tan hai đạo quân Minh do Vương Thông chỉ huy, làm phá sản hoàn toàn kế hoạch phản công của chúng vào căn cứ của Nghĩa quân và đẩy quân Minh lún sâu vào thế bị động; đồng thời tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến. Trận đánh để lại nhiều bài học quý về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật nghi binh, tạo thế.
Giữa năm 1426, dưới sự chỉ huy của Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn đã tổ chức các cánh quân tiến đánh ra Bắc, nhằm mở rộng phạm vi hoạt động và đánh tiêu hao quân Minh để chuẩn bị cho các trận đánh quyết định sau này.
Trước tình thế bất lợi ở Giao Chỉ, triều đình nhà Minh sai Thành Sơn hầu Vương Thông làm Tổng binh, cùng Đô đốc Mã Anh làm Tham tướng mang quân sang cứu viện. Ngay sau khi đến thành Đông Quan, chúng liền tổ chức các đạo quân đánh vào căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn, thực hiện mưu đồ dập tắt hoàn toàn cuộc khởi nghĩa. Với lực lượng lớn trong tay, Vương Thông đắc chí “tự cho là đánh một trận là bắt hết được quân ta”1.
Trong bối cảnh đó, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn quyết tâm giữ vững thế chủ động, tập trung lực lượng đánh bại cuộc phản công của quân Minh. Phán đoán đúng ý đồ tiến công Cao Bộ của chúng, nghĩa quân Lam Sơn đã bố trí 02 trận địa mai phục ở Tốt Động và Chúc Động. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường cùng nghệ thuật quân sự độc đáo, trận mai phục ở Tốt Động và Chúc Động đã khiến quân Minh bị tổn thất nặng nề về lực lượng và khí giới, tiếp tục lún sâu vào thế bị động. Chiến thắng Tốt Động và Chúc Động đã tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của quân và dân ta; đồng thời để lại nhiều bài học quý về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật nghi binh, tạo thế, được thể hiện trên một số nội dung sau:
Một là, nắm chắc mưu đồ của đối phương, xác định chính xác trận địa mai phục. Để phát huy lối đánh sở trường “đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh mũi nhọn, thừa chỗ hư, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”2, điều kiện tiên quyết là phải lựa chọn trận địa mai phục hợp lý. Đó phải là nơi quân địch sẽ đi qua, quân ta tiện giấu quân, bày thế, tạo bất ngờ; khi tiến công, quân ta ở thế có lợi, còn địch ở thế bất lợi. Nắm chắc ý định quân Minh sẽ tiến đánh Cao Bộ bằng hai đạo: đạo chính binh do Vương Thông trực tiếp chỉ huy từ Ninh Kiều tiến đánh căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn ở Cao Bộ và đạo kỳ binh bí mật vượt sông Ninh Giang đi đường vòng đánh vào Cao Bộ từ phía sau, nên bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã chọn Tốt Động và Chúc Động là nơi bố trí trận địa mai phục.
Việc chọn Tốt Động, Chúc Động để bố trí trận địa mai phục thể hiện nhãn quan quân sự sắc bén. Bởi, Tốt Động là vùng đất thấp, cánh đồng chiêm trũng, lầy lội; cỏ lác um tùm, địa thế hiểm yếu dễ công, khó thủ; lại có đường độc đạo chạy qua Tốt Động, Yên Duyệt lên Cao Bộ. Còn Chúc Động là khu vực nằm dưới chân núi Chúc Sơn, cách Tốt Động khoảng 06 km và sát phía Tây căn cứ Ninh Kiều, có địa thế hiểm yếu, án ngữ các trục đường thủy, đường bộ quan trọng. Tại hai khu vực hiểm yếu này, nếu hai đạo quân Minh (chủ yếu là kỵ binh và bộ binh) lọt vào trận địa mai phục, đội hình sẽ bị kéo dài, chỉ huy hiệp động kém hiệu quả, đặc biệt là địa hình lầy lội sẽ khiến khả năng cơ động của kỵ binh bị hạn chế. Ngược lại, nghĩa quân Lam Sơn có điều kiện lợi dụng gò, đống, cỏ lau, cỏ lác rậm rạp để giấu quân, bí mật cơ động lực lượng, thực hiện các đòn đánh bất ngờ từ nhiều hướng.
Đúng như dự kiến, hai đạo quân Minh do Vương Thông chỉ huy đã bí mật vượt sông, cơ động theo hai hướng tiến đánh Cao Bộ. Khi tiền quân của đạo chính binh đến Tốt Động thì hậu quân cũng vừa lọt vào trận địa ở Chúc Động, nghĩa quân Lam Sơn ở hai trận địa mai phục đã khóa chặt toàn bộ đạo chính binh. Nắm chắc thời cơ, quân ta xung phong từ nhiều hướng, chặn đầu, khóa đuôi, đánh tạt bên sườn làm cho đội hình quân Minh bị dồn ứ, chia cắt thành nhiều bộ phận. Cùng lúc đó, trời đổ mưa làm cho cánh đồng chiêm trũng càng thêm lầy lội, khiến kỵ binh và bộ binh của quân Minh bị mắc kẹt, không phát huy được sở trường. Bị tiến công bất ngờ trong điều kiện thời tiết và địa hình bất lợi, các đạo kỵ binh và bộ binh của chúng sa lầy, mất khả năng chiến đấu, tranh nhau tháo chạy, tạo thời cơ thuận lợi cho nghĩa quân Lam Sơn thừa thế truy kích và tiêu diệt.
Hai là, kết hợp chặt chẽ lập thế với chủ động phá thế tiến công ban đầu của đối phương. Thực hiện mưu đồ tiêu diệt các căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn, Vương Thông chia quân thành ba đạo chiếm giữ Cổ Sở, Sa Đôi, Thanh Oai,… làm bàn đạp để tổ chức tiến công; trong đó đạo quân ở Cổ Sở do Vương Thông chỉ huy là mũi chủ yếu, hai đạo còn lại là mũi phối hợp. Trước thế mạnh “cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời”3 của quân Minh, nhưng nghĩa quân không hề nao núng, kiên quyết giữ thế chủ động, bẻ gãy từng mũi tiến công, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc phản công của chúng. Hai tướng Phạm Văn Xảo và Lý Triện đã chủ động cho quân tạm rời doanh trại, chiếm những khu vực có lợi, làm bàn đạp tiến đánh đạo quân Minh ở cầu Thanh Oai. Đây là đạo quân nằm tách về phía Tây Nam, xa căn cứ Cổ Sở, binh lực ít, do hai tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy. Nắm chắc tình hình quân Minh, nghĩa quân bố trí trận địa, đặt quân mai phục ở cánh đồng Cổ Lãm, rồi đưa quân ra khiêu chiến, thực hiện kế “điệu hổ ly sơn” nhử chúng ra khỏi doanh trại, lừa dụ vào trận địa mai phục để tiêu diệt. Sơn Thọ và Mã Kỳ chủ quan, cho quân đuổi đánh, sa vào trận địa mai phục và bị nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt phần lớn. Đạo quân Minh ở cầu Sa Đôi do Phương Chính, Lý An chỉ huy hoảng sợ rút chạy về thành Đông Quan. Nhờ mưu lược và nghệ thuật nghi binh, mai phục tài tình, nghĩa quân đã phá vỡ thế trận phản công ban đầu, thu hẹp thế trận, làm đảo lộn ý đồ của quân Minh; đồng thời không phải phân tán lực lượng đối phó nhiều hướng, mũi cùng lúc, để có điều kiện tập trung binh lực đánh thắng đạo quân chủ lực của chúng.
Mặc dù đã phá được thế tiến công ban đầu của quân Minh, nhưng lực lượng của chúng vẫn còn rất mạnh, vì vậy bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn chủ trương tập trung lực lượng, tạo thế trận có lợi để tiến công vào đạo chính binh do Vương Thông chỉ huy. Theo đó, đạo quân Lam Sơn do hai tướng Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy đang ở Thanh Đàm đã nhanh chóng cơ động đến hội quân ở Cao Bộ để củng cố, bổ sung lực lượng. Để bảo đảm đánh chắc thắng đạo chính binh, nghĩa quân không dàn đều lực lượng đánh đồng thời cả tiền quân, trung quân và hậu quân, mà tập trung phần lớn binh lực ở Tốt Động nhằm đánh tan tiền quân; sử dụng lực lượng vừa đủ bố trí ở Chúc Động làm nhiệm vụ chốt cắt, đánh hậu quân và sẵn sàng đón lõng, truy kích khi chúng rút chạy. Thực hiện “lấy đoản binh chế trường trận”, trong từng khu vực, lực lượng của nghĩa quân chia thành các nhóm nhỏ, binh khí gọn gàng, cơ động linh hoạt, bí mật mai phục dọc hai bên đường. Có thể thấy, việc nghĩa quân thay vì dàn đều lực lượng đánh cả hai đạo quân, thì tập trung lực lượng đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu là đạo chính binh, tạo sức mạnh áp đảo, bảo đảm chắc thắng là quyết định hoàn toàn chính xác, bởi khi bộ phận chủ yếu bị tiêu diệt, các bộ phận còn lại tất yếu rơi vào thế bị động, hỗn loạn và nhanh chóng tan rã. Đồng thời, phù hợp với điều kiện thực tiễn phải “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”.
Nhờ có thế trận mai phục hiểm hóc, khi nghĩa quân đồng loạt xung phong từ nhiều phía, hăng hái chiến đấu, thế “như nước vỡ bờ” dồn quân Minh vào chỗ bùn lầy, sình lội, khiến đạo quân do Vương Thông chỉ huy lâm vào tình thế “cá lớn lội ở chỗ nước nông”, “thú mạnh đã sa vào đồng nội”, bất lực phản kháng, chỉ còn đường rút chạy.
Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo nghệ thuật “tương kế, tựu kế”. Trong trận phục kích ở Tốt Động, Chúc Động, nghệ thuật “tương kế, tựu kế” đã được nghĩa quân vận dụng linh hoạt, sáng tạo và đạt hiệu quả cao. Thông qua việc khai thác tù binh, nghĩa quân biết được quân Minh có mưu đồ “đặt súng phía sau quân ta”4 làm hiệu lệnh để hai đạo chính binh và kỳ binh phối hợp đánh kẹp quân ta ở Cao Bộ. Trên cơ sở đó, nghĩa quân chủ động “tương kế, tựu kế” - lấy mưu kế của địch để đánh lại địch. Khi đạo chính binh do Vương Thông chỉ huy theo đường độc đạo tiến đến Tốt Động, đạo kỳ binh vượt qua cầu Ninh Giang, nghĩa quân nắm chắc thời cơ tiến hành bắn pháo hiệu. Việc bắn pháo hiệu khiến quân Minh nhầm tưởng là pháo hiệu của mình, vội vã thúc quân tiến sâu vào trận địa mai phục của nghĩa quân. Trong khi đó, quân mai phục của ta vẫn “nằm im không được nhúc nhích”5, khiến quân Minh càng tin rằng dọc đường không có mai phục, càng thêm chủ quan, lơ là phòng bị, tạo nên thời cơ tốt cho nghĩa quân xung phong tiêu diệt.
Với nghệ thuật “tương kế, tựu kế” xuất sắc, nghĩa quân Lam Sơn không những phá được kế hoạch hiệp đồng ban đầu của quân Minh, mà còn dùng chính hiệu lệnh đó để lừa dụ, đẩy chúng lao nhanh hơn vào trận địa mai phục đã chuẩn bị sẵn. Thực tiễn cho thấy, đạo chính binh do Vương Thông chỉ huy bị đánh bất ngờ đã không kịp trở tay, đội hình tan rã chỉ sau vài giờ chiến đấu. Đạo kỳ binh đang cơ động trên đường nghe tin đạo chính binh bị đánh quỵ ở Tốt Động, hoảng sợ, vội vã rút lui, chạy về Đông Quan thì lại sa vào trận địa đón lõng của nghĩa quân đã chuẩn bị sẵn ở Chúc Động và bị tiêu diệt phần lớn. Khi quân Minh bị mắc kẹt ở cánh đồng lầy lội, quân mai phục của ta thừa thắng xông lên truy kích tiêu diệt và bắt sống hàng vạn tên, “thu được ngựa, quân tư, khí giới, xe cộ nhiều không kể xiết”6, giành thắng lợi hoàn toàn. Mô tả về chiến công oanh liệt này, Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo: “Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm/Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu”7.
Thời gian đã lùi xa, nhưng nghệ thuật nghi binh, tạo thế trong trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426 vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo trong điều kiện chiến tranh hiện đại, góp phần làm giàu thêm lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại tá, TS. PHẠM HỮU AN, Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch, Học viện Lục quân _____________________
1 - Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa học xã hội, H. 1998, tr. 257.
2 - Viện Lịch sử Quân sự – Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tập 5, Nxb CTQGST, H. 2024, tr. 184.
3 - Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa học xã hội, H. 1998, tr. 258.
4 - Sđd, tr. 259.
5 - Sđd, tr. 259.
6 - Sđd, tr. 259.
7 - Viện Lịch sử Quân sự – Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tập 5, Nxb CTQGST, H. 2024, tr. 189.
Nghệ thuật nghi binh,tạo thế,trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426,nghĩa quân Lam Sơn,quân Minh
Nghệ thuật đánh điểm, diệt viện trong Chiến dịch Bắc Phú Yên năm 1966 23/04/2026
Nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 09/03/2026
Nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ trong Chiến dịch Tây Sơn Tịnh năm 1966 11/02/2026
Nghệ thuật đánh thắng trận mở đầu trong Chiến dịch Bắc Bình Định năm 1966 22/01/2026
Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Hiệp Đức - Đồng Dương năm 1965 29/12/2025
Nghệ thuật đánh trận then chốt mở đầu trong Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng năm 1965 17/11/2025
Những quyết sách xây dựng quân đội, bảo vệ giang sơn, bờ cõi thời Lê Sơ 23/10/2025
Bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Biên giới 1950 18/09/2025
Nghệ thuật tạo, lập và chuyển hóa thế trận trong Chiến dịch tiến công Lộc Ninh năm 1967 28/08/2025
Nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định trong Chiến dịch Ba Gia năm 1965 24/07/2025
Nghệ thuật nghi binh, tạo thế trong trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426