Thứ Sáu, 31/07/2026, 18:20 (GMT+7)
Nghiên cứu - Tìm hiểu Lịch sử Quân sự Việt Nam
Trong Chiến dịch Sa Thầy năm 1966, bằng nghệ thuật “điều, dụ địch”, ta đã dẫn dắt, lừa dụ các đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến của quân Mỹ vào khu vực bất lợi để tiêu diệt, góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ - ngụy trên chiến trường Tây Nguyên.
Giữa năm 1966, sau thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, Mỹ tiếp tục đưa vào miền Nam Việt Nam một số đơn vị tinh nhuệ và nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường.
Đáng chú ý, chúng đã điều Sư đoàn 4 bộ binh lên Tây Nguyên, phối hợp với các lực lượng thiết lập thế trận “tìm diệt” và “bình định” mới. Tại Tây Nguyên, Sư đoàn 4 bộ binh và Lữ đoàn 3, Sư đoàn 25 bộ binh quân Mỹ đã tổ chức căn cứ ở Kon Tum và Tân Cảnh, hình thành lực lượng cơ động “tìm diệt” chủ lực Quân giải phóng. Các đơn vị quân ngụy Sài Gòn làm nhiệm vụ “bình định”, kiểm soát địa bàn và kìm kẹp Nhân dân; Sư đoàn 1 kỵ binh không vận và Lữ đoàn 101 dù là lực lượng sẵn sàng ứng cứu, phản kích. Với lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến cùng ưu thế về hỏa lực và khả năng cơ động, quân Mỹ càng hung hăng, chủ quan, đánh giá thấp khả năng chiến đấu và nghệ thuật tác chiến của Quân giải phóng.
Về ta, chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Sa Thầy - Chiến dịch Sa Thầy1, nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, nhất là quân Mỹ, hỗ trợ phong trào đấu tranh của quần chúng phá thế kìm kẹp; đồng thời thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của Mỹ trên địa bàn rừng núi Tây Nguyên, tạo điều kiện cho quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của địch.
Kết quả, Chiến dịch Sa Thầy đã thắng lợi giòn giã, làm phá sản một bước âm mưu giành quyền chủ động chiến trường của địch ở Tây Nguyên. Đặc biệt, Chiến dịch trở thành một trong những điển hình tiêu biểu về nghệ thuật nghi binh, điều, dụ địch, được thể hiện trên một số nét:
Một là, nghiên cứu, nắm chắc quy luật, thủ đoạn của địch; xác định chính xác mục tiêu khêu ngòi. Để bày mưu, lập thế, lừa, dụ địch đến khu vực bất lợi, khiến chúng không thể phát huy được sở trường, buộc phải đánh theo cách của ta, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo lực lượng trinh sát phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương nắm chắc đặc điểm, quy luật và thủ đoạn chiến đấu của quân Mỹ, nhất là thủ đoạn đổ bộ đường không, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch tác chiến. Theo đó, khi phát hiện lực lượng chủ lực của ta, địch sẽ dùng chiến thuật “trực thăng vận” đổ quân vào bên sườn, phía sau để bao vây, bọc hậu, kết hợp với lực lượng biệt kích luồn sâu tiến công hợp điểm. Nếu phản kích không thành, chúng tiếp tục đổ quân vào sâu trong địa bàn chiến dịch đánh phá căn cứ hậu cần, kỹ thuật, cắt đứt sự chi viện, tiếp tế cho lực lượng phía trước. Tuy nhiên, Sư đoàn 4 bộ binh quân Mỹ mới đến Việt Nam, tinh thần chiến đấu không cao, sợ đánh đêm, đánh gần, đánh xen kẽ; vận dụng chiến thuật trực thăng vận một cách rập khuôn, máy móc; hỏa lực không quân, pháo binh không phát huy được hiệu quả nếu bị đánh gần, đánh xen kẽ và thường dựa vào sức mạnh của hỏa lực chi viện. Thực tiễn, thông qua việc nắm, nghiên cứu, đánh giá chính xác tình hình địch, Bộ Tư lệnh và cơ quan Chiến dịch đã dự kiến, hoàn chỉnh quyết tâm chiến đấu nhanh; xác định cách đánh phù hợp, tổ chức sử dụng và bố trí lực lượng, phương tiện hợp lý; tạo lập thế trận hiểm hóc và vận dụng các biện pháp nghi binh, điều, dụ địch đạt hiệu quả cao.
Để dụ địch ra khỏi căn cứ, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lựa chọn mục tiêu khêu ngòi là đồn biệt kích Plei Gi-răng - hậu cứ của Sư đoàn 4 bộ binh và Sư đoàn 25 bộ binh quân Mỹ. Đây là mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch; thực hiện nhiệm vụ cảnh giới, ngăn chặn việc vận tải, tiếp tế của quân và dân ta cho chiến trường Tây Nguyên. Lực lượng địch tại đồn biệt kích này mỏng, nên khi bị tiến công, vây ép sẽ không đủ sức tự phản kích mà sẽ phải sử dụng lực lượng khác để ứng cứu, giải tỏa. Do đó, nếu ta khéo khêu ngòi, tạo áp lực đủ lớn sẽ dụ được quân Mỹ cơ động ứng cứu, giải tỏa. Mặt khác, địa hình từ phía Tây cứ điểm Plei Gi-răng đến giáp biên giới Việt Nam - Campuchia rất hiểm trở, có nhiều dãy núi cao, thấp đan xen hình thành các thung lũng, khe sâu và rừng cây rậm rạp, tạo thành hệ thống vật cản tự nhiên, hạn chế khả năng cơ động của phương tiện cơ giới, nên quân địch không thể phản kích bằng đường bộ được, chỉ có phương án duy nhất là đổ bộ đường không. Ngược lại, địa hình rừng núi, hiểm trở giúp ta tổ chức, sử dụng lực lượng bảo đảm yếu tố bí mật, tạo bất ngờ khi tác chiến.
Đúng như dự kiến, sau khi Trung đoàn 95 thực hành vây ép và pháo kích vào cứ điểm Plei Gi-răng mở màn Chiến dịch, địch lập tức điều động lực lượng Sư đoàn 4 bộ binh quân Mỹ đổ bộ đường không vào khu vực Sa Thầy hòng “tìm diệt” chủ lực Quân giải phóng, tạo điều kiện cho các đơn vị của ta thực hành tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực, từng bước nhử địch vào sâu trong thế trận của Chiến dịch.
Hai là, tạo lập thế trận sâu, hiểm, hình thành các “bậc thang” diệt địch. Khu vực tác chiến chủ yếu của Chiến dịch rộng khoảng 500 km2; từ Đường 15 đến biên giới Việt Nam - Campuchia và từ Sùng Lễ đến Sùng Thiện. Để thuận tiện cho chỉ huy, hiệp đồng tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chia khu vực tác chiến chủ yếu thành 04 khu vực: A, B, C, D để bố trí lực lượng, phương tiện hình thành các “bậc thang” diệt địch. Theo đó, khu A ở phía Đông sông Pô Kô; ta bố trí Trung đoàn 95 đảm nhiệm đánh khêu ngòi, vây ép tạo áp lực với cứ điểm Plei Gi-răng nhằm dụ địch vào khu B.
Khu B ở phía sau khu A, do Trung đoàn 320 đảm nhiệm đánh địch phản kích; đồng thời tiếp tục kích thích, dụ địch đổ quân vào khu C. Như vậy, khu A và khu B được coi là “bậc thang” thứ nhất; nơi diễn ra hoạt động khêu ngòi và các trận đánh nhỏ, lẻ tiêu hao từng trung đội, đại đội quân địch, tạo phản ứng ban đầu, kích thích, nhử địch tiến sâu hơn vào thế trận của ta. Khu C và khu D (khu quyết chiến) là “bậc thang” thứ hai, nằm ở phía Tây sông Sa Thầy; nơi dự kiến tổ chức các trận then chốt và then chốt quyết định của Chiến dịch. Tại đây, Bộ Tư lệnh Chiến dịch bố trí lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 1, cụ thể: Trung đoàn 88 ở khu C, Trung đoàn 66 ở khu D; tiểu đoàn cối 120 mm, tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm là lực lượng chi viện chung, nhằm tạo ưu thế sức mạnh, đủ sức đánh tiêu diệt lớn quân Mỹ, hoàn thành mục đích của Chiến dịch đề ra.
Cách tạo lập thế trận thành các “bậc thang” diệt địch với quy mô, nhịp độ và cường độ tăng dần là nét đặc sắc về nghệ thuật điều, dụ địch; phù hợp với đặc điểm địa hình bị chia cắt và quy luật, thủ đoạn đổ bộ đường không của chúng. Mỗi khu vực, tuy có nhiệm vụ khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ, tác động lẫn nhau, kết quả chiến đấu của khu vực này là cơ sở để thực hiện các hoạt động tác chiến ở khu vực phía sau; các đơn vị ở phía sau cũng hỗ trợ, chi viện cho đơn vị phía trước, tạo nên thế trận sâu, hiểm, vững chắc.
Cùng với đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo các Trung đoàn 66, 88, 320 tổ chức hệ thống chốt cấp trung đội, đại đội, chiếm giữ địa hình có giá trị chiến thuật trong khu vực tác chiến, tạo thế cài xen, chia cắt quân địch. Các chốt với quy mô khác nhau đã tạo thêm yếu tố chủ động trong điều, dụ địch và lựa chọn không gian trận đánh; giúp Bộ Tư lệnh dự kiến các phương án đánh địch đổ bộ sát hơn - yêu cầu quan trọng trong tác chiến đánh địch đổ bộ đường không.
Nhờ có thế trận tốt, ta đã dẫn dụ được Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn 2, Sư đoàn 4 bộ binh và một số đại đội biệt kích, đại đội hỏa lực quân Mỹ đổ bộ xuống khu C; các bãi đổ quân của chúng gần đúng với phương án ta dự kiến, tạo nên thời cơ thuận lợi cho Trung đoàn 88 thực hành xung phong tiêu diệt hàng trăm lính Mỹ, phá hủy nhiều vũ khí và máy bay trực thăng.
Ba là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp nghi binh, lừa địch. Trong Chiến dịch Sa Thầy, hoạt động nghi binh được tổ chức bằng nhiều hình thức, biện pháp. Trong đợt 1 của Chiến dịch, cùng với thực hiện trận khêu ngòi tạo áp lực vào cứ điểm Plei Gi-răng, ta sử dụng lực lượng công binh và thông tin phối hợp với Trung đoàn 95 thực hành bắc 02 cầu treo qua sông Pô Kô và triển khai đường dây hữu tuyến điện chạy dọc phía Tây sông Pô Kô; đồng thời xây dựng trận địa giả, đốt lửa, tạo khói, nổ bộc phá, v.v. Các hoạt động trên đã khiến quân địch lầm tưởng các đơn vị chủ lực của ta đang chuẩn bị đánh mạnh vào cứ điểm Plei Gi-răng, nên chúng vội vã sử dụng lực lượng của Sư đoàn 4 bộ binh phản kích hòng thực hiện ý đồ “tìm diệt”, tạo điều kiện thuận lợi để ta thực hiện kế hoạch tác chiến.
Bước sang đợt 2, Bộ Tư lệnh Chiến dịch điều Trung đoàn 320 cơ động quay trở lại khu B, dựa vào hệ thống chốt, tổ chức vận động tiến công đánh các trận nhỏ, lẻ; chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh hoạt động bắc cầu giả vượt sông Sa Thầy, xây dựng trận địa giả ở khu D, tạo khói ở khu C, kiên quyết nhử địch tiến sâu vào khu quyết chiến để thực hiện các trận then chốt chiến dịch. Những biện pháp nghi binh linh hoạt, sáng tạo, tăng dần cường độ đã khiến quân địch bị phân tâm, buộc phải đưa ra quyết định: “Chỉ có điều quân chiến đấu nhảy vào giao chiến trên chiến trường do đối phương lựa chọn, mới có hy vọng tìm thấy mục tiêu và thực hiện được ý định “tìm diệt” chủ lực Quân giải phóng”2. Do đó, chúng đã điều lực lượng của Sư đoàn 4 bộ binh, Sư đoàn 25 bộ binh và Sư đoàn 1 kỵ binh không vận quân Mỹ cùng vào tham chiến.
Ngoài ra, Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn chỉ đạo các đơn vị chấp hành nghiêm quy định giữ bí mật, tổ chức ngụy trang công sự trận địa kín đáo, không để quân địch trinh sát, quan sát phát hiện. Vì vậy, khi chúng vừa đổ quân, đứng chân chưa vững đã bị ta giáng cho những đòn choáng váng dẫn đến thất bại nhanh chóng.
Nghệ thuật điều, dụ địch của quân và dân ta trong chiến dịch Sa Thầy là những kinh nghiệm quý đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong huấn luyện và chiến đấu.
Thượng tá, TS. LÊ ĐÌNH TRUNG, Khoa Sư phạm quân sự, Trường Sĩ quan Lục quân 1 _____________________
1 - Lực lượng tham gia Chiến dịch: Sư đoàn bộ binh 1 (gồm 03 trung đoàn: 66, 88, 320), Trung đoàn 95, Tiểu đoàn Cối 120 mm, 02 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Kon Tum, Gia Lai.
2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam – Một số chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 1, Nxb QĐND, H. 2018, tr. 449.
Nghệ thuật,điều,dụ địch,Chiến dịch Sa Thầy,dẫn dắt,lừa dụ,đơn vị tinh nhuệ,thiện chiến,chiến trường Tây Nguyên
Nghệ thuật tạo lập thế trận trong Chiến dịch Đắk Tô I 15/06/2026
Nghệ thuật nghi binh, tạo thế trong trận Tốt Động - Chúc Động năm 1426 29/05/2026
Nghệ thuật đánh điểm, diệt viện trong Chiến dịch Bắc Phú Yên năm 1966 23/04/2026
Nghệ thuật đánh trận then chốt quyết định trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 09/03/2026
Nghệ thuật tạo thế, tạo thời cơ trong Chiến dịch Tây Sơn Tịnh năm 1966 11/02/2026
Nghệ thuật đánh thắng trận mở đầu trong Chiến dịch Bắc Bình Định năm 1966 22/01/2026
Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Hiệp Đức - Đồng Dương năm 1965 29/12/2025
Nghệ thuật đánh trận then chốt mở đầu trong Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng năm 1965 17/11/2025
Những quyết sách xây dựng quân đội, bảo vệ giang sơn, bờ cõi thời Lê Sơ 23/10/2025
Bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Biên giới 1950 18/09/2025
Nét đặc sắc của nghệ thuật “điều, dụ địch” trong Chiến dịch Sa Thầy năm 1966