Thứ Hai, 15/06/2026, 09:29 (GMT+7)
Bình luận - Phê phán Phòng, chống "DBHB"; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng ngày càng sâu rộng, Việt Nam không ngừng mở rộng hợp tác, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương, thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin chiến lược và nâng cao vị thế quốc tế. Lợi dụng quá trình đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền luận điệu “trung lập hóa” Quân đội với những cách diễn giải tinh vi, dễ tạo ra nhận thức lệch lạc. Do vậy, nhận diện và đấu tranh bác bỏ luận điệu này là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam luôn kiên định thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đồng thời chủ động mở rộng quan hệ theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, trên cơ sở phương châm là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế. Trong đó, đối ngoại quốc phòng giữ vai trò quan trọng, hướng tới thiết lập và phát triển quan hệ quốc phòng với các nước trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, qua đó phục vụ hiệu quả nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, với âm mưu thâm độc, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề này để không ngừng xuyên tạc đòi “trung lập hóa” Quân đội, với những luận điệu lúc thì trực diện, lúc thì vòng vo lồng ghép, như: “quân đội cần đứng ngoài chính trị để hội nhập” thuận lợi, hiệu quả hơn; “hợp tác quốc phòng đòi hỏi quân đội phải trung lập”, hay “quân đội chỉ nên phục vụ quốc gia, không gắn với bất kỳ lực lượng chính trị nào”, v.v. Những cách diễn đạt này dễ gây ngộ nhận, nhằm mục đích sâu xa là thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội.
Trước hết, cần nhận thức rõ “trung lập” trong quan hệ quốc tế là không tham gia liên minh quân sự, không đứng về phe nào trong các xung đột giữa các nước, duy trì chính sách đối ngoại cân bằng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây là vấn đề thuộc về đường lối đối ngoại của quốc gia, phản ánh cách thức ứng xử trong môi trường quốc tế. Trong khi đó, “trung lập hóa” Quân đội lại liên quan trực tiếp đến bản chất chính trị và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.
Thực tiễn cho thấy, không tồn tại một quân đội “trung lập tuyệt đối” đứng ngoài chính trị. Xét về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực, phục vụ cho mục đích chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất định. Tính chất chính trị của quân đội thể hiện tập trung rõ ở mục tiêu chiến đấu, tổ chức lực lượng, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của quân đội; phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Dù dưới hình thức nào, quân đội cũng luôn mang bản chất giai cấp cầm quyền và phải phục tùng một thiết chế lãnh đạo xác định, dựa trên nền tảng chính trị cụ thể. Không có quân đội chung chung, phi giai cấp, đứng ngoài chính trị. Điều đó cho thấy, cái gọi là “trung lập” hóa quân đội là hoàn toàn phi lý, phi thực tế.
Từ góc độ đó có thể khẳng định: hội nhập quốc tế không đặt ra yêu cầu “trung lập hóa” quân đội, mà ngược lại, đòi hỏi Quân đội phải được lãnh đạo chặt chẽ hơn. Hội nhập đồng nghĩa với việc mở rộng quan hệ, tiếp xúc với nhiều hệ giá trị, nhiều mô hình tổ chức khác nhau. Trong môi trường đó, nếu không có nền tảng chính trị rõ ràng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội rất dễ rơi vào trạng thái dao động, mất phương hướng. Hơn nữa, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng không chỉ là hợp tác, mà còn là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Quân đội tham gia hội nhập phải đủ năng lực phân biệt đối tác và đối tượng, đủ bản lĩnh để tiếp thu có chọn lọc, đủ kiên định để không bị chi phối bởi các quan điểm sai trái, không có lợi cho lợi ích quốc gia. Những yêu cầu này không thể đạt được nếu Quân đội bị “trung lập hóa” về chính trị. Vì vậy, cần cảnh giác với luận điệu quân đội cần “trung lập” trong đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế. Việc đánh đồng hai vấn đề này là một sự nhập nhằng có chủ ý cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện, mang bản chất cách mạng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thống nhất ý chí và hành động. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt càng trở nên đặc biệt quan trọng, bởi hội nhập không chỉ mở ra cơ hội phát triển mà còn làm gia tăng mức độ tác động, thâm nhập và chi phối lẫn nhau giữa các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, nhất là về chính trị, quốc phòng - an ninh và tư tưởng. Chính sự đan xen lợi ích và giao thoa giá trị đó dễ làm nảy sinh nguy cơ “lệch hướng” về nhận thức, dao động về lập trường, thậm chí bị tác động bởi các quan điểm, mô hình tổ chức quân đội khác biệt với bản chất, mục tiêu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, trong môi trường hội nhập, nơi vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa mở rộng quan hệ vừa phải giữ vững độc lập, tự chủ thì sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội không chỉ là yếu tố bảo đảm định hướng chính trị đúng đắn, mà còn là nhân tố quyết định giữ vững bản chất cách mạng, tăng cường sức đề kháng trước các tác động bên ngoài, bảo đảm cho Quân đội luôn vững vàng, thống nhất về ý chí và hành động trong mọi tình huống.
Quan điểm của Đảng ta về đối ngoại quốc phòng đã được xác định nhất quán, rõ ràng và mang tính định hướng chiến lược lâu dài. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam khẳng định: lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng để giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực. Thông qua đối ngoại quốc phòng, Việt Nam chủ động xử lý các mối quan hệ quốc tế liên quan đến quốc phòng - an ninh; góp phần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Quan điểm này đồng thời đặt ra yêu cầu xuyên suốt: triển khai đối ngoại quốc phòng phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm thống nhất giữa mục tiêu quốc phòng với mục tiêu chính trị, đối ngoại của quốc gia.
Thực tiễn triển khai trong những năm qua đã minh chứng sinh động và thuyết phục cho tính đúng đắn của quan điểm đó. Việt Nam đã không ngừng mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn. Điều đáng chú ý là, các mối quan hệ này được thiết kế, dẫn dắt và vận hành trên cơ sở định hướng chính trị rõ ràng, phục vụ trực tiếp lợi ích chiến lược của quốc gia. Nội dung hợp tác ngày càng toàn diện, đi vào chiều sâu, từ đối thoại chính sách quốc phòng, tham vấn chiến lược, trao đổi đoàn các cấp, đến hợp tác đào tạo, công nghiệp quốc phòng, quân y, khắc phục hậu quả chiến tranh, v.v. Tất cả đều phản ánh một thực tế: đối ngoại quốc phòng không phải là “không gian trung tính”, mà là lĩnh vực thể hiện tập trung bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và nghệ thuật xử lý quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.
Ở bình diện đa phương, dấu ấn của Việt Nam ngày càng rõ nét với vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm tại các cơ chế, diễn đàn quốc phòng - an ninh khu vực và quốc tế. Việc tham gia và phát huy vai trò tại các hội nghị, đối thoại như ADMM, ADMM+, Đối thoại Shangri-La, Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh hay Hội nghị An ninh quốc tế Moscow,… không chỉ nhằm tăng cường trao đổi thông tin hay hợp tác chuyên môn, mà quan trọng hơn, tiếng nói của Việt Nam về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các bên,… được thể hiện rõ ràng, nhất quán. Đó là biểu hiện trực tiếp của tính chính trị trong đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế.
Một minh chứng tiêu biểu khác là việc Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Với hàng nghìn lượt cán bộ, nhân viên được cử đi làm nhiệm vụ, cùng các bệnh viện dã chiến tại Nam Sudan và đội công binh tại khu vực Abyei, Việt Nam không chỉ đóng góp về chuyên môn, kỹ thuật hay nhân đạo, mà còn thể hiện rõ trách nhiệm chính trị của một quốc gia thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Qua đó, hình ảnh đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng được khẳng định, uy tín và vị thế trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Thực tiễn đó cho thấy, càng tham gia sâu vào các cơ chế quốc tế, hoạt động của Quân đội càng cần thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, có vậy Quân đội mới hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần thực thi hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Mặt khác, thông qua đối ngoại quốc phòng, Việt Nam cũng tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: từ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực công nghiệp quốc phòng, đến hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh. Những kết quả này không chỉ góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, mà còn trực tiếp củng cố nền tảng chính trị - xã hội, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Đồng thời, đối ngoại quốc phòng còn là kênh quan trọng để Việt Nam chủ động truyền tải, làm rõ với bạn bè quốc tế về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa phương hóa, đa dạng hóa và chính sách quốc phòng “4 không” của Đảng, Nhà nước.
Từ cả phương diện lý luận và thực tiễn có thể thấy rõ, trong đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế không cần điều kiện Quân đội phải trung lập, mà trái lại, càng trong điều kiện hội nhập sâu rộng, yếu tố chính trị trong hoạt động này càng trở nên nổi bật và giữ vai trò chi phối. Chính trị ở đây không phải là sự áp đặt chủ quan, mà là sự định hướng chiến lược, bảo đảm cho mọi hoạt động quốc phòng, kể cả đối ngoại luôn phục vụ mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, những luận điệu cho rằng mở rộng hợp tác quốc phòng, hội nhập quốc tế phải “trung lập hóa” Quân đội là hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Thượng tá, TS. CAO DUY ĐÔNG, Phó Chủ nhiệm Khoa Công tác đảng, công tác chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị
Luận điệu “trung lập hóa” Quân đội,hội nhập quốc tế,cơ chế đa phương,thúc đẩy đối thoại,lòng tin chiến lược
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển – luận điệu xuyên tạc cần đấu tranh, bác bỏ 14/06/2026
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mục tiêu nhất quán, không thể xuyên tạc 08/06/2026
Không thể xuyên tạc, phủ nhận chức năng lao động sản xuất của Quân đội ta 27/05/2026
Phản bác luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay 14/05/2026
Lật tẩy chiêu trò xuyên tạc mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng 14/04/2026
Kết quả bầu cử Quốc hội khóa XVI - biểu hiện tập trung của dân chủ xã hội chủ nghĩa 06/04/2026
Đấu tranh ngăn chặn âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong thế hệ trẻ hiện nay 24/03/2026
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - hiểm họa nội sinh 12/03/2026
Không thể phủ nhận giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” 16/02/2026
Thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV bác bỏ mọi thủ đoạn chống phá, luận điệu xuyên tạc 11/02/2026
Không thể xuyên tạc, phủ nhận chức năng lao động sản xuất của Quân đội ta
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mục tiêu nhất quán, không thể xuyên tạc
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển – luận điệu xuyên tạc cần đấu tranh, bác bỏ
Cảnh giác trước luận điệu “trung lập hóa” Quân đội trong hội nhập quốc tế