QPTD -Thứ Năm, 05/11/2026, 09:18 (GMT+7)
Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”: từ truyền thống hơn tám mươi năm đến nguồn lực của quốc gia trong kỷ nguyên mới

Suốt chặng đường hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” không ngừng được bồi đắp và lan tỏa, trở thành niềm tự hào không chỉ của Quân đội ta, mà còn là tài sản tinh thần chung của dân tộc. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIII) đã đưa việc phát huy giá trị đó vào nhiệm vụ xây dựng con người và môi trường văn hóa. Điều này đặt ra yêu cầu nhận thức sâu sắc hơn nội hàm và vai trò của giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là đội quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu.

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nhân dân ta gọi những chiến sĩ ăn cùng mâm, ở cùng nhà với mình bằng một cái tên giản dị - “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là danh xưng có một không hai trên thế giới, được đặt bằng niềm tin và nghĩa tình quân dân chứ không bằng mệnh lệnh hay văn bản quy định.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu dòng chữ “Trung với nước, hiếu với dân” cho các học viên khóa I Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Ảnh tư liệu TTXVN

Như mọi giá trị văn hóa đích thực, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” có gốc rễ từ đời sống và được vun bồi từ lòng dân, nên chưa bao giờ phai nhạt mà bền bỉ và ngày càng được phát huy theo thời gian. Từ “lòng dân”, giá trị ấy đã trở thành “ý Đảng”. Gần 80 năm sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam” xác định ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”; đồng thời ghi nhận, nâng tầm danh xưng ấy, đưa vào nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam với yêu cầu: “Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, mẫu hình “công bộc của dân”, văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức gắn với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị”.

Như vậy, “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là danh xưng, phẩm chất của một lực lượng, mà đã trở thành một giá trị văn hóa của dân tộc. Bước chuyển từ “phẩm chất”1 sang “giá trị văn hóa” đã khẳng định, “Bộ đội Cụ Hồ” được Nhân dân thừa nhận, kết tinh thành chuẩn mực, thấm vào nếp nghĩ, nếp sống và được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Bước vào kỷ nguyên mới, khi Đại hội XIV của Đảng chủ trương “Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”2, giá trị này không chỉ là di sản để giữ gìn mà còn phải là nguồn lực để góp phần khơi dậy, bồi đắp nền văn hóa dân tộc và văn hóa trong Đảng, làm bền chặt “thế trận lòng dân”, góp phần vào sức mạnh mềm quốc gia. Khi trở thành nguồn lực, chính giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” cũng phải được bổ sung, phát triển trước những đòi hỏi mới của thời đại.

“Bộ đội Cụ Hồ” - từ danh xưng trìu mến đến giá trị văn hóa dân tộc

Phẩm chất người chiến sĩ cách mạng có trước danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”. Ngay từ khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời cuối năm 1944, Mười lời thề danh dự đã xác định những chuẩn mực đầu tiên đối với người chiến sĩ về lòng trung thành với Tổ quốc, tinh thần kỷ luật và quan hệ với Nhân dân. Ngày 26/5/1946, tại Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát những chuẩn mực đó bằng lời huấn thị thiêng liêng: “Trung với nước, hiếu với dân”3. Lời thề danh dự và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yêu cầu của tổ chức, của Lãnh tụ đối với chiến sĩ, với Quân đội. Song, để trở thành giá trị văn hóa của dân tộc, những yêu cầu và phẩm chất này đã trải qua quá trình không ngừng được tôi rèn và phát triển với ba thành tố cơ bản.

Sự thừa nhận của Nhân dân. Trong kháng chiến, bộ đội cùng lao động, cùng chiến đấu với đồng bào; đến đâu cũng giúp dân sản xuất, giữ làng, giữ xóm, giữ quê hương. Nhân dân đáp lại bằng cách nuôi giấu, che chở và trìu mến gọi bộ đội cùng với tên vị Lãnh tụ kính yêu. Qua đó, Nhân dân cũng đặt lên vai những người lính một kỳ vọng lớn lao: phải xứng đáng với Bác Hồ. Cùng với danh xưng này, Nhân dân còn có những cách gọi thân tình đối với lực lượng vũ trang như “Anh/Chú Bộ đội”, “Anh/Chú Công an”, đưa lực lượng vũ trang vào cách xưng hô gần gũi trong gia đình Việt Nam. Đây cũng là điều hiếm có trên thế giới, khẳng định sự trân trọng, thừa nhận của Nhân dân đối với giá trị, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

Sự kết tinh thành chuẩn mực, thấm vào nếp nghĩ, nếp sống. Từ thực tiễn ứng xử của bộ đội, những điều nên làm và những điều không được làm dần được định hình thành quy tắc, như “Mười hai điều răn” (05/4/1948), trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn bộ đội, cơ quan Chính phủ và các đoàn thể những điều phải nhớ và thực hành khi tiếp xúc, sống chung với Nhân dân4. Năm 1964, nhân kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội, Người đúc kết phẩm chất bộ đội trong lời khen tặng: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”5. Từ “trung với nước” (năm 1946) đến “trung với Đảng” (năm 1964) là sự thống nhất chặt chẽ. Bởi, “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”6. Vì thế, trung với Đảng chính là trung thành với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân đã lựa chọn.

 “Trung với Đảng, hiếu với dân”, tức là lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, gắn bó cùng mối quan hệ máu thịt với Nhân dân. Hai giá trị này quy định bản chất cách mạng và bản chất nhân dân của Quân đội. Bao quanh hạt nhân là các giá trị cấu thành, gồm: chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần lạc quan; đoàn kết và kỷ luật tự giác; đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Hướng ra bên ngoài là tinh thần quốc tế trong sáng, nhân nghĩa và yêu chuộng hòa bình, cầm súng vì chính nghĩa, đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh. Các tầng giá trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Kỷ luật của “Bộ đội Cụ Hồ” dựa trên cơ sở giác ngộ lý tưởng cách mạng chứ không phải sự phục tùng một cách bắt buộc, còn chủ nghĩa anh hùng cách mạng được hun đúc từ chính lòng trung thành với Đảng và tình quân dân.

Đoàn quân đi trong lòng dân tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nguồn: laodong.vn

Sự trao truyền qua các thế hệ. Những phẩm chất được thừa nhận và kết tinh ở thế hệ bộ đội chống Pháp được thế hệ bộ đội chống Mỹ tiếp nhận và nâng lên, tiếp tục thử thách trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Nhưng trao truyền không tự diễn ra. Trong thời kỳ đổi mới, mặt trái của cơ chế thị trường khiến giá trị đó có thể phai nhạt nếu không được giữ gìn một cách có chủ đích. Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương và Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu giữ vững, phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”,... chính là những nỗ lực gìn giữ, trao truyền có tổ chức như vậy.

Ba vấn đề cơ bản trên cho thấy, “Trung với Đảng, hiếu với dân” giữ vị trí hạt nhân bền vững qua mọi thời kỳ, còn nội dung và cách biểu hiện của các giá trị khác được bổ sung theo từng giai đoạn cách mạng. Qua các tầng nấc, phẩm chất, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành tài sản tinh thần chung của dân tộc, góp phần bồi đắp cho nền văn hóa của cả cộng đồng, cũng như cho văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong văn hóa Việt Nam và văn hóa trong Đảng

Đối với nền văn hóa Việt Nam, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”7. Trong đó, hệ giá trị quốc gia có một nét riêng: ba giá trị đứng đầu của hệ giá trị này là “Hòa bình, thống nhất, độc lập” không phải được thừa hưởng mà phải giành lấy, giữ gìn bằng xương máu của Nhân dân và lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Vì thế, với người Việt Nam, “Bộ đội Cụ Hồ” là cách cụ thể nhất để hiểu những giá trị vốn rất trừu tượng. Các chuẩn mực con người Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định, như: “Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo”8, được bộ đội ta thực hành hằng ngày trong chiến đấu, công tác và sinh hoạt.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn được lan tỏa mạnh mẽ bởi các thế hệ cựu chiến binh, cựu quân nhân khi họ trở về địa phương, mang nếp sống kỷ luật, tinh thần đồng đội và ý thức trách nhiệm vào gia đình, làng xóm, nơi làm việc; phát huy vai trò quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ.

Cùng với đó, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” được khắc họa sâu sắc trong nghệ thuật và ký ức chung. Hình tượng “Anh Bộ đội Cụ Hồ” với những phẩm chất cao quý trong các tác phẩm văn học, sách giáo khoa,... đã in đậm trong tiềm thức của biết bao người Việt Nam và không hề phai nhạt kể cả ở những thế hệ chưa từng biết đến chiến tranh. Sức hút của bộ phim “Mưa đỏ”; hàng trăm nghìn lượt người tới tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; hay đông đảo người dân thức xuyên đêm để được hòa vào không khí diễu binh, diễu hành kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước,... cho thấy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã chạm tới cảm xúc và là niềm tự hào của mọi tầng lớp Nhân dân và có thể trở thành chất liệu cho phát triển công nghiệp văn hóa.

Đối với văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị, Đại hội XIV của Đảng đặt ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới”9. Nhân dân tin tưởng vào Đảng không chỉ qua văn kiện, mà trước hết và trên hết là thông qua những cán bộ, đảng viên cụ thể, hằng ngày làm việc, tiếp xúc với Nhân dân. Ở khắp mọi miền Tổ quốc, đặc biệt là biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, bộ đội và công an luôn là lực lượng gần gũi Nhân dân nhất. Vì vậy, đạo đức và văn minh của Đảng được thể hiện một phần qua họ. Đạo đức thể hiện ở lòng trung thành, sự tận tụy và tinh thần sẵn sàng hy sinh. Văn minh thể hiện ở kỷ luật tự giác, ở sự tôn trọng phong tục và tài sản của Nhân dân, ở cách ứng xử nhân đạo cả trong chiến đấu và quan hệ quốc tế.

Điều cốt yếu không chỉ là bản thân các phẩm chất ấy, mà là cách Quân đội đưa chúng vào đời sống thực tiễn. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” xác định cho cán bộ, đảng viên, như: “yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc”, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”,... từ lâu đã thành nếp sống của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Điều đó có được là bởi nhiều yếu tố, trong đó, công tác đảng, công tác chính trị là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao ý chí rèn luyện; kỷ luật được duy trì bằng giác ngộ chứ không chỉ bằng mệnh lệnh. Nhờ vậy, văn hóa chính trị trong Quân đội không dừng ở nhận thức mà trở thành hành vi tự giác. Điều này rất thiết thực cho việc thực hiện chủ trương “chú trọng phát triển văn hóa chính trị” mà Đại hội XIV của Đảng đề ra.

Cũng từ đó, có thể thấy phẩm chất “hiếu với dân” của Quân đội và mẫu hình “công bộc của dân”, hai nội dung được Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt cạnh nhau, có chung một gốc. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, các cơ quan của chính quyền “đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân” và “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”10. Trong Quân đội, tư tưởng ấy được thực hiện qua công tác dân vận, qua những đội công tác bám bản, bám dân ở vùng sâu, vùng xa và phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Khi chính quyền địa phương vận hành theo mô hình hai cấp, yêu cầu cán bộ, công chức gần dân, sát dân càng trở nên cấp thiết. Vì thế, phương châm “đi dân nhớ, ở dân thương” của bộ đội là một kinh nghiệm quý cho việc xây dựng đạo đức công vụ, đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” rất cao đẹp và là niềm tự hào riêng có của Đảng ta, Nhân dân ta, Quân đội ta, song giá trị ấy không tự miễn nhiễm. Vì vậy, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” phải đi liền với thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kỷ luật Quân đội và trách nhiệm nêu gương, theo tinh thần cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

(Còn nữa)

PGS, TS. LÊ HẢI BÌNH, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
_________________________
        

1 - Theo Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.

2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, tr. 99.

3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 542.

4 - Sđd, tr. 502.

5 - Sđd, Tập 14, tr. 435.

6 - Sđd, Tập 12, tr. 402.

7 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, tr. 97.

8 - Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam”.

9 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, tr. 132.

10 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG,  H. 2011, tr. 64 - 65.

Ý kiến bạn đọc (0)

Thấm nhuần tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy kết quả, thành tích, toàn quân đẩy mạnh thi đua xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới
Thấm nhuần tư tưởng thi đua yêu nước của Người, toàn quân không ngừng đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, tạo động lực quan trọng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.