Thứ Năm, 29/10/2026, 11:51 (GMT+7)
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết
Tư duy của Đảng ta về đối tác, đối tượng không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội. Sự phát triển đó không chỉ phản ánh bước tiến trong tư duy chiến lược của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn trực tiếp định hình, hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới.
Chiến tranh là thảm họa đối với nhân loại. Một đất nước hòa bình, không có chiến tranh là đất nước tuyệt vời nhất, hạnh phúc nhất trên trái đất này. Nhưng, một đất nước phải cầm súng chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược hung bạo, cũng là việc nhất thiết phải làm để giành và giữ độc lập, tự do của Tổ quốc và đó thực sự là một dân tộc anh hùng.
Việt Nam là một dân tộc như thế! Chúng ta yêu chuộng hòa bình và hơn ai hết, chúng ta thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình; đồng thời, cũng thấu hiểu những đau thương, mất mát của chiến tranh. Tuy nhiên, đứng trước họa xâm lăng, dân tộc ta không bao giờ chịu khuất phục, luôn anh dũng đứng lên chiến đấu đánh bại các cuộc chiến tranh phi nghĩa của kẻ thù xâm lược, giành và giữ nền độc lập, tự do cho dân tộc, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Đó là chiến tranh chính nghĩa cần phải có, nếu không sẽ không có hòa bình, không có độc lập, tự do. Cũng vì lẽ đó mà ngay khi Nhân dân ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt, Romesh Chandra - Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới đã khẳng định: “Việt Nam là lương tri của thời đại”. Điều đó đã phản ánh sự khâm phục sâu sắc của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì độc lập, tự do của Nhân dân Việt Nam.
Sở dĩ nhắc lại lịch sử hào hùng của dân tộc như vậy là để chúng ta nói đến hiện tại, rằng: càng thấu hiểu giá trị của hòa bình, chúng ta càng phải chủ động gìn giữ hòa bình bằng mọi giải pháp, trong đó có công tác đối ngoại, nhằm vừa tạo dựng, giữ vững môi trường hòa bình cho đất nước, vừa góp phần vào hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Yêu cầu đó đặt ra cho Đảng ta phải không ngừng đổi mới tư duy đối ngoại, chủ động nhận diện và xử lý đúng đắn các mối quan hệ quốc tế trong từng thời kỳ. Và sự phát triển nhận thức về đối tác, đối tượng của Đảng cũng hình thành, vận động và phát triển từ yêu cầu thực tiễn ấy.
Ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, non sông thu về một mối, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh, cùng sự bao vây, cấm vận, chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; trong khi quan hệ quốc tế chịu sự chi phối sâu sắc của cục diện hai cực, hai phe. Trong bối cảnh đó, yêu cầu hợp tác, đấu tranh của thời kỳ này cũng có khác. Tuy nhiên, khi tình hình thế giới chuyển biến, nhất là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển ngày càng trở thành dòng chảy chủ đạo, cách nhìn nhận và xử lý các mối quan hệ đối ngoại của Đảng ta cũng có bước phát triển mới.
Bước chuyển ấy được thể hiện rõ từ cuối những năm 1980, khi Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị (khóa VI) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, mở ra cách tiếp cận mới có ý nghĩa nền tảng đối với quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng theo hướng “đa dạng hóa, đa phương hóa”, vừa đấu tranh, vừa hợp tác, cùng tồn tại hòa bình; từng bước hóa giải thế bao vây, cô lập, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về sách lược, mà phản ánh sự thay đổi về nhận thức môi trường quốc tế và lợi ích của đất nước: từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên sự phân định tương quan đối đầu sang chủ động tìm kiếm những điểm tương đồng, mở rộng hợp tác và tranh thủ các nhân tố thuận lợi từ bên ngoài.
Trên nền tảng đó, tư duy đối ngoại của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội, ngày càng thể hiện rõ tính chủ động, rộng mở và linh hoạt trong nhận diện, xử lý các mối quan hệ quốc tế. Tại Đại hội VII, Đảng ta xác định chủ trương: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”1. Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhận thức về đối tác, đối tượng được xác lập rõ hơn, với phương châm: thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch chống đối, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Điều đáng chú ý không chỉ là sự xuất hiện của hai phạm trù “đối tác” và “đối tượng”, mà quan trọng hơn là sự phát triển về nhận thức và xử lý các mối quan hệ: không nhìn một chủ thể theo một chiều, cố định, mà xem xét họ trong quan hệ với lợi ích, mục tiêu và hành động cụ thể đối với Việt Nam.
Đến Nghị quyết số 28-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tư duy của Đảng về đối tác, đối tượng tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới, linh hoạt và biện chứng hơn. Theo đó, những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Tuy nhiên, trong mỗi đối tượng vẫn có thể có những mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn cần phải đấu tranh.
Như vậy, trước bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và quan hệ quốc tế thay đổi với sự đan xen lợi ích phức tạp, Đảng ta đã ngày càng chủ động, linh hoạt, sáng tạo hơn trong quan hệ đối ngoại. Chúng ta mong muốn quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với các nước và các nước cũng có nhu cầu như thế với ta, vì lợi ích chung của mỗi nước, đồng thời cũng vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Theo đó, việc nâng tầm quan hệ ngoại giao giữa hai bên đòi hỏi phải thỏa mãn các điều kiện: thứ nhất, không làm tổn hại, thậm chí có lợi đối với sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; thứ hai, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển trên phạm vi toàn cầu; thứ ba, không làm ảnh hưởng, hoặc gây phương hại cho quốc gia khác.
Đến Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục chủ động hơn trong quan hệ đối ngoại, tăng cường tính đối tác trong các quan hệ hợp tác. Đây không phải là “buông lỏng cảnh giác”, mà là chủ động ngăn ngừa, hạn chế mâu thuẫn và bất đồng; bởi khi lợi ích được đan xen, lòng tin được củng cố và quan hệ hợp tác được mở rộng thì không gian cho đối đầu, xung đột cũng được thu hẹp. Điều đó cho thấy, tư duy đối ngoại của Đảng không chỉ hướng tới xử lý những gì đã và đang diễn ra, mà còn chủ động tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, tranh thủ mặt đồng thuận để phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc. Hơn thế nữa, quan điểm của Đảng về đối tác, đối tượng rất rõ ràng, không hề có sự mập mờ theo kiểu “vàng thau lẫn lộn”. Cùng với khẳng định, thống nhất quan điểm về đối tác - đối tượng, Đảng ta còn chỉ rõ tính chất đan xen, phức tạp giữa đối tác và đối tượng nhằm tạo cơ sở cho việc nhận biết và cẩn trọng trong quan hệ hợp tác.
Như vậy, đánh giá, phân biệt đối tác hay đối tượng rất linh hoạt, không cứng nhắc, phải tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể, cách ứng xử, chính sách, hành động của họ đối với ta, thậm chí có quốc gia vừa là đối tác, vừa là đối tượng; hay nói rõ và đúng hơn là thời điểm này họ là đối tác, thời điểm khác là đối tượng, đối tác trên lĩnh vực này nhưng là đối tượng trên lĩnh vực khác và ngược lại. Do đó, chúng ta phải hết sức tỉnh táo, phân biệt và vận dụng đúng đắn, linh hoạt quan điểm của Đảng về đối tác, đối tượng, về hợp tác và đấu tranh để tránh phạm sai lầm không đáng có trong quan hệ đối ngoại, ảnh hưởng tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Sự phát triển tư duy của Đảng về đối tác - đối tượng là một trong những thành tựu nổi bật trong tư duy xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần hình thành phương pháp tiếp cận biện chứng, linh hoạt trong nhận diện, xử lý các mối quan hệ quốc tế, làm cơ sở hoạch định và không ngừng hoàn thiện đường lối đối ngoại. Thực tiễn qua 40 năm đổi mới, từ một nước bị cấm vận, bao vây, cô lập, tính đến tháng 9/2026, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thiết lập khuôn khổ đối tác toàn diện trở lên với 42 nước, trong đó có toàn bộ thành viên G7, 17/20 thành viên G20; có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chưa bao giờ nước ta có cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín trên trường quốc tế như hiện nay. Thực tiễn đó thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy nhạy bén của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới; đồng thời, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại với ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong bối cảnh thế giới đang có sự thay đổi mang tính thời đại, vừa tạo thời cơ, thuận lợi lớn, vừa đan xen nhiều thách thức, khó khăn đối với nước ta.
Chúng ta tự hào về điều đó và tin rằng, với nền ngoại giao được xây dựng toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp mang đậm bản sắc ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao “cây tre” chắc chắn sẽ tiếp tục gặt hái được nhiều thành tựu to lớn hơn thế nữa, tương xứng với thế và lực mới của đất nước. Trên cơ sở đó, góp phần tăng cường nguồn ngoại lực, tạo sức mạnh “mềm” trong nguồn sức mạnh tổng hợp của quốc gia cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đóng góp tích cực, thực chất vào việc kiến tạo, gìn giữ hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Từ những thành tựu nổi bật của hoạt động đối ngoại qua 40 năm đổi mới, có thể khẳng định nhân tố có ý nghĩa quyết định là đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, nhất quán với nguyên tắc: độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Trong quá trình đó, sự phát triển tư duy về đối tác, đối tượng là một bước đột phá quan trọng về nhận thức, chuyển từ cách nhìn nhận quan hệ quốc tế chủ yếu theo phân tuyến bạn - thù sang cách tiếp cận biện chứng, linh hoạt về đối tác - đối tượng và cao hơn nữa là nhận thức biện chứng về mối quan hệ đan xen, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, góp phần mở ra không gian đối ngoại rộng lớn hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thiếu tướng NGUYỄN MẠNH HÙNG ________________________
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H. 1991, tr. 147.
Phát triển tư duy,đối tác,đối tượng,quan hệ đối ngoại,dân tộc anh hùng
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử (Tiếp theo và hết) 27/10/2026
Xây dựng tỉnh Thanh Hóa ổn định về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 26/10/2026
Bước đột phá cho khát vọng và quyết tâm lớn đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững 20/10/2026
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Những quyết sách chiến lược, mở đường phát triển đất nước 16/10/2026
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử (Tiếp theo) 13/10/2026
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (Tiếp theo và hết) 12/10/2026
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới (Tiếp theo và hết) 09/10/2026
Tỉnh Nghệ An tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong kỷ nguyên mới 08/10/2026
“Tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại 06/10/2026
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử 05/10/2026
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới (Tiếp theo và hết)
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (Tiếp theo và hết)
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử (Tiếp theo)
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Những quyết sách chiến lược, mở đường phát triển đất nước
Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
“Tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại
Bước đột phá cho khát vọng và quyết tâm lớn đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững