Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Sáu, 09/10/2026, 12:48 (GMT+7)
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới (Tiếp theo và hết)

I. Từ “vững chắc” đến “chủ động, vững chắc” - bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ

II. Phát huy sức mạnh tổng hợp, lập thế, tạo lực xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò chiến lược của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gần 20 năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã triển khai thực hiện toàn diện các nội dung xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và đạt nhiều kết quả quan trọng.

Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các ban, bộ, ngành, lực lượng vũ trang và toàn dân về nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng được nâng lên; cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành từng bước được hoàn thiện; tiềm lực, lực lượng, thế trận khu vực phòng thủ, đặc biệt là tiềm lực chính trị, tinh thần, “thế trận lòng dân”, thế trận quân sự được củng cố, tăng cường; khả năng huy động, phối hợp các nguồn lực và xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn được nâng cao, v.v. Qua đó, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.

Khẩu đội súng máy phòng không 12,7mm nổ súng đánh địch trong diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Đắk Lắk năm 2026. Nguồn: qdnd.vn

Những kết quả đạt được là minh chứng sinh động, khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nỗ lực, quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đồng thời tạo cơ sở quan trọng để tiếp tục xây dựng khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt nền móng cho việc xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, Đại hội XIV của Đảng đã phát triển tư duy đó lên trình độ mới, với yêu cầu mỗi khu vực phòng thủ không chỉ có khả năng tự bảo vệ khi có chiến tranh mà còn phải chủ động tạo thế, tạo lực, dự báo, phòng ngừa, kiểm soát và xử lý hiệu quả các nguy cơ quốc phòng, an ninh ngay từ thời bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Vì vậy, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc đặt ra những yêu cầu mới rất cao, mở rộng cả về đối tượng, phạm vi và có nhiều nội dung mang tính đột phá. Để hiện thực hóa chủ trương này đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp, đổi mới toàn diện từ tư duy, thể chế đến phương thức tổ chức, nội dung xây dựng, cơ chế vận hành và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Trong đó, cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, đổi mới tư duy, nâng cao trách nhiệm của các cấp, ngành, tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân về xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc.

Về nhận thức, phải thống nhất quan điểm xây dựng khu vực phòng thủ là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết trước mắt, vừa cơ bản lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung quan trọng cụ thể hóa xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn quân. Khắc phục triệt để nhận thức giản đơn, phiến diện, coi xây dựng khu vực phòng thủ là nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang và cơ quan quân sự địa phương, cũng như tình trạng hành chính hóa hoặc quân sự hóa trong tổ chức thực hiện, tư duy cục bộ, khép kín, mạnh ai nấy làm theo từng lĩnh vực, từng địa bàn.

Quan trọng hơn, cần đổi mới tư duy xây dựng khu vực phòng thủ từ “chuẩn bị để ứng phó” sang “chủ động phòng ngừa, chủ động kiến tạo, làm chủ môi trường quốc phòng, an ninh”, cũng như cách tiếp cận mới về khu vực phòng thủ từ một “không gian tổ chức phòng thủ theo địa giới hành chính” sang “không gian quản trị chiến lược trên từng địa bàn”. Từ đó, hình thành tư duy mở, liên thông, tích hợp, đặt xây dựng khu vực phòng thủ trong mối quan hệ hữu cơ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; xây dựng thế trận phòng thủ dân sự vững mạnh, nâng cao khả năng chống chịu của từng địa phương và cả nước trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống. Quá trình triển khai thực hiện cần xác định rõ đó không chỉ là thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ở trình độ cao hơn, tiếp tục nâng cao năng lực phòng thủ của từng địa phương, mà hướng tới kiến tạo hệ thống các “không gian quản trị chiến lược” liên kết chặt chẽ trên phạm vi cả nước, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Để tạo chuyển biến đó, cần đẩy mạnh công tác quán triệt, giáo dục, thông tin, tuyên truyền, làm cho toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm, chủ trương mới của Đảng về xây dựng khu vực phòng thủ, cũng như khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra. Trọng tâm đi vào những nội dung phát triển mới, làm rõ nội hàm, mục tiêu, yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, tránh chung chung, hình thức. Đặc biệt, cần chuyển việc quán triệt từ học tập, nghiên cứu văn bản sang thiết kế hành động; từ nhận thức chủ trương sang tổ chức thực hiện; từ định hướng chiến lược sang xác định rõ trách nhiệm và kết quả đầu ra gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể. Qua đó, mỗi cấp, ngành, tổ chức và người dân không chỉ “biết chủ trương”, mà còn xác định rõ: mình phải làm gì, làm như thế nào, phối hợp với ai và chịu trách nhiệm đến đâu trong xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc. Có như vậy mới thực sự đưa chủ trương, nghị quyết đi vào cuộc sống.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, cơ chế xây dựng khu vực phòng thủ, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tư duy và quan điểm mới của Đảng chỉ phát huy đầy đủ giá trị trong thực tiễn khi được thể chế hóa thành chủ trương, chính sách, pháp luật và cơ chế vận hành đầy đủ, đồng bộ, khả thi. Do đó, cần nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các cơ chế tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ theo Nghị quyết Đại hội XIV, bảo đảm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang và phát huy trách nhiệm của các cấp, ngành, cơ quan, tổ chức và cá nhân; bảo đảm quan điểm, mục tiêu, yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ được quán triệt, tích hợp đồng bộ ngay từ khâu hoạch định chính sách, quy hoạch phát triển và phân bổ nguồn lực.

Hiện nay, trước sự đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cần rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và phương thức phối hợp giữa Trung ương với địa phương, giữa các ban, bộ, ngành và giữa các địa phương với nhau trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ, bảo đảm thống nhất, liên thông, không chồng chéo, không để khoảng trống trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa chủ trương, quan điểm về xây dựng khu vực phòng thủ thành các chương trình, kế hoạch hành động có mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và trách nhiệm cụ thể gắn với nguồn lực bảo đảm và cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả.

Một hướng cần nghiên cứu là xây dựng cơ chế liên kết giữa các khu vực phòng thủ, nhất là những địa bàn có sự đan xen, gắn kết về kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng chiến lược, dân cư, tài nguyên và không gian phát triển,… nhằm tạo lập thế trận phòng thủ liên vùng liên hoàn, có chiều sâu, có khả năng hỗ trợ, bổ sung cho nhau; khắc phục tư duy xây dựng khu vực phòng thủ khép kín theo từng địa giới hành chính. Đặc biệt, xây dựng “Bộ tiêu chí về khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” làm căn cứ thống nhất để định hướng, quy hoạch, đầu tư, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu. Qua đó, tạo cơ sở, động lực nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ. Về lâu dài, cần xây dựng một hệ thống thể chế mở, linh hoạt, với hành lang pháp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, liên thông, bảo đảm cho khu vực phòng thủ có khả năng huy động, kết nối, phân bổ, chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực thành sức mạnh quốc phòng, cũng như chủ động điều chỉnh, thích ứng với sự vận động của môi trường chiến lược.

Thứ ba, xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ hiện đại, liên hoàn, có khả năng thích ứng cao.

Theo tư duy mới, việc xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ hiện nay không chỉ dừng ở củng cố từng yếu tố cấu thành, mà phải hướng tới kiến tạo một hệ thống phòng thủ tích hợp, có tính tự chủ, thích ứng cao trước sự biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường chiến lược. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng toàn diện các tiềm lực chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong đó, xây dựng cơ sở chính trị, củng cố “thế trận lòng dân” làm nền tảng; tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ là động lực; quốc phòng, an ninh và đối ngoại giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp tạo lập sức mạnh phòng thủ. Các tiềm lực phải được tích hợp đồng bộ, có khả năng hỗ trợ, bổ sung và chuyển hóa lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp ngay từ thời bình và nhanh chóng huy động, chuyển hóa thành năng lực, sức mạnh quốc phòng khi có tình huống.

Đối với xây dựng thế trận, cần thay đổi tư duy tổ chức thế trận chủ yếu trong phạm vi địa giới hành chính sang tư duy kiến tạo không gian phòng thủ tích hợp, mở và liên hoàn; trong đó, thế trận quân sự giữ vai trò nòng cốt được kết nối chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận phòng thủ dân sự và không gian phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại trên từng địa bàn. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, xây dựng thế trận khu vực phòng thủ cần được mở rộng sang các không gian chiến lược mới, nhất là không gian số, không gian mạng, không gian dữ liệu và các hạ tầng chiến lược. Mặt khác, phải tăng cường tính liên hoàn trong tổ chức thế trận, gắn thế trận phòng thủ của địa phương với thế trận phòng thủ quân khu và thế trận phòng thủ chiến lược trên các vùng, miền; từng bước hình thành cơ chế liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các khu vực phòng thủ về quy hoạch, kết cấu hạ tầng, thông tin, dữ liệu, hậu cần, kỹ thuật, phòng thủ dân sự và xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh. Qua đó, tạo thế trận phòng thủ thống nhất, liên hoàn, có chiều sâu trên các vùng, miền và phạm vi cả nước.

Thực hiện vấn đề này, cần tiếp tục gắn kết chặt chẽ quy hoạch phát triển với quy hoạch quốc phòng, bảo đảm thống nhất quan điểm, mục tiêu, yêu cầu phát triển và yêu cầu quốc phòng, an ninh ngay từ khâu hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân gắn với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, hạ tầng số, dữ liệu, năng lượng, giao thông, logistics và các hạ tầng chiến lược theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, có khả năng chuyển hóa nhanh phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Đây không đơn thuần là đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, mà là từng bước tổ chức không gian phát triển theo hướng đồng thời kiến tạo không gian phòng thủ, tạo thế, tạo lực và nền tảng vật chất, công nghệ cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.

Hiện nay, việc điều chỉnh địa giới hành chính vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết, vừa mở ra những điều kiện mới để tái cấu trúc thế trận khu vực phòng thủ. Các địa phương cần chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch thế trận quân sự, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và các phương án phòng thủ, phù hợp với không gian hành chính, không gian phát triển và yêu cầu phòng thủ mới, bảo đảm tính kế thừa, liên tục và thống nhất, không để phát sinh khoảng trống, sơ hở trong thế trận phòng thủ.

Khống chế các đối tượng quá khích trong diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Đắk Lắk
năm 2026. Nguồn: qdnd.vn

Thứ tư, xây dựng lực lượng quốc phòng trong khu vực phòng thủ vững mạnh, đồng bộ.

Tiềm lực tạo nên nguồn lực, thế trận tạo nên không gian và điều kiện phát huy sức mạnh, thì lực lượng là chủ thể tổ chức, vận hành và chuyển hóa những nguồn lực, điều kiện đó thành năng lực, sức mạnh phòng thủ trên thực tế. Vì vậy, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc trước hết phải xây dựng lực lượng quốc phòng trong khu vực phòng thủ có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, được tổ chức khoa học, hiệp đồng chặt chẽ, có khả năng huy động, chuyển hóa linh hoạt trước mọi tình huống; trong đó, lực lượng vũ trang là nòng cốt, lực lượng toàn dân được tổ chức, phối hợp chặt chẽ, tạo sức mạnh phòng thủ tổng hợp, rộng khắp là nền tảng.

Theo đó, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang địa phương tinh, gọn, mạnh, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, đủ khả năng làm nòng cốt trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ trong cả thời bình và thời chiến. Trong đó, xây dựng lực lượng thường trực cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, có chất lượng cao. Đồng thời, chú trọng nâng cao năng lực, hiệu quả phối hợp giữa Quân đội, Công an và các lực lượng khác trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ngay từ cơ sở.

Xây dựng khu vực phòng thủ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Do đó, phải tổ chức, kết nối và phát huy vai trò của tất cả các lực lượng, từ cán bộ, đảng viên, nhân viên các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp đến đội ngũ trí thức, nhà khoa học, học sinh, sinh viên, quần chúng nhân dân, v.v. Để đạt hiệu quả, cần nghiên cứu, xác định rõ vai trò, chức năng, trách nhiệm của mỗi chủ thể trong xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ. Đặc biệt, tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng “dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã khẳng định, “thế trận lòng dân” là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân. Vì vậy, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc phải gắn chặt với chăm lo đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Đồng thời, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để mỗi người dân phát huy đầy đủ quyền làm chủ, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Khi niềm tin xã hội được củng cố, Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ quê hương, thì đó chính là nền tảng bền vững nhất để hiện thực hóa khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật, công nghệ không gian, công nghệ lượng tử và các công nghệ mới đang làm thay đổi sâu sắc phương thức phát triển, quản trị quốc gia và các vấn đề về quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh đó, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc không thể chỉ dựa vào các nguồn lực và phương thức truyền thống, mà phải tạo dựng năng lực, sức mạnh phòng thủ dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây vừa là động lực nâng cao năng lực quản trị, dự báo, chỉ huy, điều hành, xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh của khu vực phòng thủ trong điều kiện mới, vừa là cơ sở quan trọng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại.

Bởi vậy, cần cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành các chương trình, đề án và nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng khu vực phòng thủ; đưa công nghệ số vào toàn bộ quá trình hoạch định, xây dựng, quản lý và vận hành khu vực phòng thủ, từ xây dựng, quản lý tiềm lực, tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận đến huấn luyện, diễn tập, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, v.v. Trọng tâm tập trung xây dựng hạ tầng số an toàn, đồng bộ, hiện đại trở thành một bộ phận hữu cơ của khu vực phòng thủ; đẩy mạnh phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung; từng bước hình thành hệ thống thông tin chỉ huy, điều hành thống nhất, kết nối giữa các cấp, các ngành và các lực lượng.

Đặc biệt, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hệ thống thông tin địa lý, công nghệ mô phỏng, phân tích để nâng cao năng lực dự báo, nhận diện nguy cơ, xây dựng phương án và hỗ trợ ra quyết định. Qua đó, từng bước chuyển phương thức lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành hiện nay sang quản trị khu vực phòng thủ trên nền tảng dữ liệu, tri thức và công nghệ. Đây là nguồn lực mới góp phần hình thành khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc, có năng lực nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, chủ động phòng ngừa, phản ứng linh hoạt, xử lý hiệu quả các tình huống ngay từ thời bình và sẵn sàng chuyển trạng thái khi có tình huống.

Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc là sự phát triển mới trong tư duy của Đảng về tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đánh dấu bước chuyển tư duy từ phòng thủ ứng phó sang chủ động tạo thế, tạo lực và quản trị nguy cơ từ địa phương, cơ sở. Tư duy đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới toàn diện phương thức xây dựng khu vực phòng thủ, từ nâng cao năng lực quản trị chiến lược của cấp ủy, chính quyền; hoàn thiện thể chế, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đến xây dựng đồng bộ tiềm lực, lực lượng, thế trận, phát triển khoa học, công nghệ và huy động, kết nối, chuyển hóa hiệu quả sức mạnh toàn dân. Qua đó, từng bước kiến tạo các khu vực phòng thủ vững chắc cả về thế và lực, có khả năng chủ động nhận diện, phòng ngừa, thích ứng và xử lý hiệu quả các nguy cơ, tạo mạng lưới phòng thủ thống nhất, liên hoàn, có chiều sâu trên phạm vi cả nước. Đó cũng chính là cơ sở góp phần hiện thực hóa chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, tạo thế và lực mới, giữ vững thế chủ động chiến lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Đại tá NGUYỄN MẠNH TUẤN, Phó Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.