Thứ Ba, 13/10/2026, 09:44 (GMT+7)
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết
I. Đổi mới - bước ngoặt tư duy góp phần làm nên tầm vóc của Đảng
II. Từ lý luận đến thực tiễn - sức sống của đường lối đổi mới trong 40 năm phát triển đất nước
Thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay là thước đo khách quan, khẳng định tính đúng đắn, khoa học của đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
Qua 40 năm vận dụng, bổ sung và phát triển, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới đã được hiện thực hóa bằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Bằng những con số cụ thể, cùng những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã phản ánh sinh động diện mạo của Việt Nam đang phát triển, hội nhập và ngày càng nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Từ tư duy đột phá đến kỳ tích tăng trưởng
Qua 40 năm đổi mới, lý luận về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã từng bước được thể chế hóa, cụ thể hóa thành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như các chương trình, kế hoạch hành động để tổ chức triển khai thực hiện; hệ thống thể chế không ngừng được hoàn thiện theo yêu cầu phát triển của từng giai đoạn, tạo cơ sở pháp lý ngày càng vững chắc cho quá trình chuyển đổi và vận hành của nền kinh tế. Lý luận đã được kiểm chứng bằng tốc độ phát triển và sự lột xác ngoạn mục của nền kinh tế quốc gia.
Nhìn lại chặng đường lịch sử, khi Việt Nam bắt đầu bước vào công cuộc đổi mới, những hoài nghi về khả năng dung hợp giữa “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” là không ít. Có ý kiến còn cho rằng, đó là một sự chắp vá khiên cưỡng, một mô hình không tưởng(!). Thế nhưng, 40 năm qua, thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã đập tan những định kiến ấy. Kinh tế thị trường tại Việt Nam không chỉ vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của thị trường toàn cầu mà còn giữ vững được bản chất nhân văn, lấy sự phát triển của con người làm mục tiêu tối cao, đặt dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo.
Sức sống của mô hình này được minh chứng sinh động bằng những kết quả thực tiễn mang tính lịch sử, trước hết là ở tốc độ và quy mô tăng trưởng ấn tượng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 - 2016 trung bình gần 07%/năm, có 03 năm trên 07%, 07 năm trên 08% và 02 năm trên 09%; có hai giai đoạn 06 năm liên tiếp 1992 - 1997 và 2002 - 2007 đạt được tốc độ tăng trưởng trên 07%1. Ngay cả trong giai đoạn mười năm gần đây (2016 - 2025), bất chấp những cơn địa chấn của kinh tế toàn cầu, từ cuộc xung đột địa chính trị phức tạp, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, cho đến đại dịch bệnh thế kỷ và sự đứt gãy đột ngột của chuỗi cung ứng toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ở mức cao, trở thành một trong những điểm sáng tăng trưởng ổn định nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương2.
Đi đôi với tốc độ là sự bứt phá ngoạn mục về tầm vóc và quy mô kinh tế. Quy mô và tiềm lực nền kinh tế không ngừng được nâng lên; GDP theo giá hiện hành đạt 346,6 tỉ USD (năm 2020); 476 tỉ USD (năm 2024); vượt qua mốc 510 tỉ USD (năm 2025). Thu nhập bình quân đầu người đã vượt ngưỡng 5.000 USD vào cuối giai đoạn 2021 - 20253, chính thức đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao. Từ một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, Việt Nam đã vươn lên nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Kỳ tích này có được trước hết từ việc đổi mới tư duy, từng bước hoàn thiện thể chế để giải phóng, huy động và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế thông qua hệ thống lý luận đa sở hữu của nền kinh tế nhiều thành phần. Việc định vị “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” đã giúp Nhà nước có đủ công cụ và nguồn lực vật chất mạnh mẽ để điều tiết vĩ mô, định hướng chiến lược và đầu tư vào các hạ tầng xương sống của quốc gia. Song hành với đó, việc xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” đã thực sự cởi trói cơ chế, đánh thức nguồn lực rất lớn còn tiềm ẩn trong xã hội. Kinh tế tư nhân bứt phá mạnh mẽ, đóng góp khoảng 50% GDP trong suốt giai đoạn 2016 - 2023 và đến 2025 đóng góp 51% GDP; không chỉ tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, mà còn hình thành nên những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh, xây dựng được những thương hiệu Việt mang tầm vóc quốc tế, đủ sức cạnh tranh trên sân chơi toàn cầu4.
Phát triển văn hóa, xã hội và con người - minh chứng cho tính nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn thuyết phục và tự hào nhất chính là kỳ tích xóa đói giảm nghèo bền vững. Vào những năm 1980, hơn 70% dân số Việt Nam sống dưới ngưỡng nghèo5. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia chiếm tới 58,1%. Bằng những nỗ lực đầu tiên, đến năm 2002, con số này đã giảm xuống còn 28,9%, năm 2012 chỉ còn 9,6%, năm 2020 là 4,8%, đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều chỉ còn 1,3%. Với những con số ấn tượng đó, từ một nước nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh, Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới (WB) và Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đánh giá là “một trong những quốc gia giảm nghèo nhanh nhất và ấn tượng nhất trong lịch sử hiện đại”; một câu chuyện thành công truyền cảm hứng mạnh mẽ cho cộng đồng quốc tế về tính ưu việt của mô hình xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam; qua đó làm rõ hơn mục tiêu phát triển vì con người của đường lối đổi mới.
Chỉ số phát triển con người (HDI) và chất lượng cuộc sống của người dân liên tục thăng hạng trong bảng xếp hạng toàn cầu6. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng liên tục, đạt con số 74,5 tuổi, vượt trội so với trung bình của nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Các chính sách chăm lo người có công với cách mạng, trợ giúp xã hội, an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân (đặc biệt các chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19) được thực hiện đầy đủ, kịp thời, bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Đặc biệt, sức sống của đường lối văn hóa do Đảng khởi xướng đã khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh của hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc được gìn giữ, kế thừa và phát huy; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, lòng yêu nước sâu sắc, sự đoàn kết, nghĩa tình của con người Việt Nam đã được tôi luyện và tỏa sáng rực rỡ trong những giai đoạn khó khăn nhất, như cuộc chiến chống đại dịch bệnh, hay việc khắc phục hậu quả thiên tai. Qua đó, khẳng định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Quốc phòng, an ninh và đối ngoại - sự kết hợp vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thành tựu bao trùm và xuyên suốt tiến trình đổi mới là việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội dựa trên sức mạnh tổng hợp của toàn dân và việc vận dụng linh hoạt các phương thức bảo vệ Tổ quốc. Tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển quan trọng, thể hiện ở việc nhận thức ngày càng đầy đủ, biện chứng hơn về “đối tác”, “đối tượng”; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Năng lực dự báo chiến lược được nâng cao rõ rệt, giúp tham mưu kịp thời và hoàn thiện đồng bộ hệ thống các chiến lược chuyên ngành về quốc phòng, quân sự, an ninh quốc gia, biên giới và không gian mạng. Trên cơ sở đó, chủ động phát hiện, dự báo các nguy cơ chiến tranh, xung đột, xây dựng các phương án, đối sách ngăn ngừa phù hợp, hiệu quả. Đồng thời, kiểm soát tốt các nhân tố có thể gây bất lợi đột biến và quyết liệt đấu tranh kéo giảm các loại tội phạm nguy hiểm.
Nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp này là việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng, an ninh, trọng tâm là xây dựng Đảng bộ Quân đội và Đảng bộ Công an Trung ương trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Trên nền tảng đó, nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được củng cố vững chắc gắn liền với “thế trận lòng dân”; Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại với bộ máy “tinh, gọn, mạnh”, việc củng cố quốc phòng, an ninh được lồng ghép chặt chẽ, kết hợp hiệu quả với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương; công nghiệp quốc phòng, an ninh được đầu tư phát triển, có đột phá, bảo đảm tính lưỡng dụng, hiện đại.
Thành tựu đối ngoại nổi bật trong tiến trình đổi mới là việc triển khai đồng bộ, sáng tạo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, định hình rõ nét trường phái đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã phá vỡ thế cô lập, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và các tổ chức quốc tế, xây dựng được mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các nước lớn, các nước láng giềng và các tổ chức quốc tế quan trọng7. Tư duy đối ngoại của Đảng đạt bước chuyển chiến lược khi vận dụng linh hoạt, biện chứng cặp phạm trù “đối tác - đối tượng” trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế.
Ngoại giao Việt Nam đã phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế thông qua việc thu hút các nguồn lực quốc tế về vốn, công nghệ và thị trường. Không chỉ bảo vệ lợi ích cốt lõi của đất nước, Việt Nam còn chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, đóng góp trách nhiệm và khẳng định vai trò quan trọng tại các diễn đàn đa phương lớn như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, cũng như xung kích tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Qua đó, làm cho vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao vượt bậc.
Như vậy, bức tranh phát triển sinh động của Việt Nam sau 40 năm đổi mới là lời khẳng định đanh thép nhất cho giá trị bền vững và sức sống của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Thực tiễn đã kiểm nghiệm, bổ sung và làm phong phú lý luận, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của lý luận khoa học trong định hướng, dẫn dắt quá trình phát triển đất nước. Những thành tựu đó là nền tảng, điểm tựa lịch sử vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tự tin bước vào một giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn dài hạn và khát vọng vươn lên mạnh mẽ hơn. Tầm vóc lý luận ấy, cùng những bài học thực tiễn quý báu của công cuộc đổi mới đã đúc kết được, sẽ tiếp tục là kim chỉ nam, là bệ đỡ vững chắc để đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
PHẠM TUẤN - MINH ĐỨC - ĐÌNH BẰNG - GIA ĐỒNG
(Tiếp theo và hết: III. Lý luận về đường lối đổi mới - nền tảng đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới)
1 - https://baochinhphu.vn/nhin-lai-30-nam-doi-moi-va-hoi-nhap-102214817.htm
2 - Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 06%/năm; giai đoạn 2022 - 2025 đạt 7,2%; năm 2026 (tính đến hết tháng 9) ước đạt 9,01%.
3 - GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.586 USD; năm 2022 đạt 4.109 USD; năm 2023 đạt 4.323 USD; năm 2024 đạt 4.700 USD; năm 2025 đạt 5.026 USD; mục tiêu dự kiến năm 2026 đạt 5.400 - 5.500 USD.
4 - Số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đã tăng nhanh từ 488.395 doanh nghiệp (năm 2016) lên 940.000 doanh nghiệp (năm 2025).
5 - https://www.vietnamplus.vn/ky-tich-giam-ngheo-cua-viet-nam-hanh-trinh-tro-thanh-hinh-mau-toan-cau-post1056463.vnp
6 - HDI của Việt Nam đã liên tục tăng từ 0,682 điểm (năm 2016) lên 0,687 điểm (năm 2017); 0,693 điểm (năm 2018); 0,703 điểm (năm 2019); 0,706 điểm (năm 2020); 0,766 điểm (năm 2023), xếp hạng 93/193 quốc gia trên thế giới, thuộc nhóm các nước có chỉ số HDI cao. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam được đo lường theo tiêu chí của Liên hợp quốc cho thấy, chỉ số này có xu hướng tăng từ 5,061 điểm, xếp vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên 5,411 điểm, xếp vị trí thứ 79 năm 2021; 5,485 điểm, xếp vị trí thứ 77 năm 2022, thứ 65 năm 2023, thứ 54 năm 2024 và vị trí 46 năm 2025. So với năm 2016, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 48 bậc.
7 - Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 07 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20). Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính.
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng,kinh tế - xã hội,quốc phòng,an ninh và đối ngoại
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (Tiếp theo và hết) 12/10/2026
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới (Tiếp theo và hết) 09/10/2026
Tỉnh Nghệ An tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong kỷ nguyên mới 08/10/2026
“Tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại 06/10/2026
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử 05/10/2026
Những điểm mới về quyền con người trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng 05/10/2026
Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 30/09/2026
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 28/09/2026
“Hai ngăn ngừa” - tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa 24/09/2026
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (tiếp theo) 17/09/2026
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (tiếp theo)
“Hai ngăn ngừa” - tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử
Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
“Tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới (Tiếp theo và hết)
Những điểm mới về quyền con người trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng