Bình luận - Phê phán Phòng, chống "DBHB"; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

QPTD -Thứ Hai, 19/10/2026, 08:23 (GMT+7)
Bình đẳng giới ở Việt Nam - giá trị nhân văn, minh chứng sinh động về bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa

Bình đẳng giới là một giá trị tiến bộ, nhân văn, gắn với mục tiêu giải phóng con người; được thể hiện rõ trong đường lối lãnh đạo của Đảng, thể chế hóa bằng chính sách, pháp luật và được hiện thực hóa qua những kết quả đạt được trong thực tiễn. Những cơ sở đó góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời bác bỏ những nhận định phiến diện, thiếu khách quan, xuyên tạc về thực tiễn bình đẳng giới ở Việt Nam.

Những năm qua, vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam là một trong những nội dung mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo, từ đó đưa ra những nhận định phiến diện về bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, nhận thức chưa đầy đủ về bình đẳng giới, nhất là việc chưa phân biệt giữa bình đẳng về quyền, cơ hội và bình đẳng về kết quả, cũng dễ dẫn đến cách nhìn thiếu khách quan, thậm chí vô tình tiếp tay cho những luận điệu sai trái. Để nhận diện đúng bản chất vấn đề, đồng thời góp phần đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, cần nhìn nhận từ những cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn.

Các đại biểu nữ tham dự Đại hội XIV của Đảng.

Cơ sở chính trị của bình đẳng giới ở Việt Nam

Bình đẳng giới ở Việt Nam có nền tảng từ chính mục tiêu của cách mạng. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong mối quan hệ thống nhất với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đây là quan điểm có ý nghĩa căn bản, bởi địa vị của phụ nữ được đặt trong tiến trình cải biến xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới. Từ nghiên cứu thực tiễn lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rõ vai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng, Người khẳng định: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân ta. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”1.

Tư tưởng của Người đã được hiện thực hóa trong quá trình phát triển đất nước. Trước hết, ở sự thay đổi địa vị xã hội của người phụ nữ Việt Nam. Trong xã hội cũ, phụ nữ chịu nhiều ràng buộc bởi những tập tục, quan niệm phong kiến và sự bất bình đẳng về quyền chính trị, kinh tế, xã hội. Cách mạng đã mở ra một bước chuyển lịch sử, đưa phụ nữ trở thành công dân có quyền chính trị, quyền lao động, học tập, tham gia quản lý xã hội và cống hiến cho đất nước. Trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân tộc, phụ nữ đã tham gia sâu rộng vào mọi mặt trận của cách mạng; trực tiếp chiến đấu, làm giao liên, nuôi giấu cán bộ, bảo đảm hậu cần, sản xuất, chăm sóc thương binh, giữ gìn cơ sở cách mạng, v.v. Trong xây dựng đất nước, phụ nữ tham gia lao động sản xuất, giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, quản lý nhà nước và hoạt động xã hội. Trong công cuộc đổi mới, phụ nữ tiếp tục khẳng định năng lực trong kinh tế, khoa học, công nghệ, quản trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực mới. Đó là một phương diện thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu phát triển được gắn với con người. Quyền và lợi ích chính đáng của con người được xác lập trong quá trình phát triển. Phụ nữ được tạo điều kiện phát huy năng lực và cống hiến cho cộng đồng, đất nước.

Thể chế tạo nền tảng vững chắc cho bình đẳng giới

Bình đẳng giới ở Việt Nam được xác lập bằng đường lối nhất quán của Đảng và được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”2; Luật Bình đẳng giới năm 20063 quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Xác định mục tiêu bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Nữ quân nhân Việt Nam tham gia hoạt động Gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.

Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xác định: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”4. Quan điểm đó tiếp tục được cụ thể hóa trong Điều 26, Hiến pháp năm 2013: “1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định nguyên tắc: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng… không phân biệt đối xử giữa các con”5.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 được Chính phủ ban hành tại Nghị quyết số 28/NQ-CP, ngày 03/3/2021, xác định mục tiêu tổng quát: tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Hệ thống pháp luật liên quan tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, như: Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và nhiều văn bản khác.

Việc bình đẳng giới được ghi nhận trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật đồng bộ thể hiện rõ quyền bình đẳng được đặt trong nền tảng pháp lý cao nhất của Nhà nước, trở thành một nội dung của quyền công dân và yêu cầu của quản trị quốc gia. Hệ thống thể chế đó đã phủ nhận mọi luận điệu cho rằng, bình đẳng giới ở Việt Nam chỉ là khẩu hiệu!

Những thành tựu cụ thể khẳng định vị thế ngày càng cao của phụ nữ Việt Nam

Thực tiễn đời sống là căn cứ thuyết phục nhất để đánh giá mức độ thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam mà không ai có thể phủ nhận; đồng thời, cho thấy phụ nữ Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và năng lực của mình trên các lĩnh vực.

Trong lĩnh vực chính trị, Quốc hội khóa XVI nhiệm kỳ 2026 - 2031 có 150 nữ đại biểu trong tổng số 500 đại biểu, chiếm 30%6. Kết quả này phản ánh quá trình tạo nguồn, đào tạo, quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ nữ trong hệ thống chính trị. Đồng thời, thể hiện rõ nét việc phụ nữ trực tiếp tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hoạch định chính sách, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền làm chủ của công dân. Quyền chính trị của phụ nữ, vì vậy được chuyển hóa thành năng lực tham gia quản trị quốc gia.

Ra mắt nền tảng số cho phụ nữ Thủ đô khởi nghiệp. Nguồn: chinhphu.vn

Đối với lĩnh vực lao động, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động xã hội. Tính đến 31/12/2025, khu vực đơn vị sự nghiệp (bao gồm cả công lập và ngoài công lập) ghi nhận tổng số 1.645.665 lao động nữ, chiếm 70,1% tổng số lao động của toàn khối sự nghiệp7. Những con số này phản ánh mức độ tham gia sâu rộng của phụ nữ vào quá trình tạo ra của cải vật chất, cung cấp dịch vụ và phát triển kinh tế. Phụ nữ Việt Nam còn đóng góp mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khởi nghiệp. Nhiều phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo doanh nghiệp, quản trị tổ chức, làm chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm cho cộng đồng. Năng lực kinh tế của phụ nữ ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực phát triển quốc gia.

Trong giáo dục, Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu năm 2025 của Diễn đàn Kinh tế thế giới ghi nhận Việt Nam đã thu hẹp 97,2% khoảng cách giới trong giáo dục. Đây là nền tảng quan trọng để phụ nữ nâng cao trình độ, tiếp cận việc làm có chất lượng và tham gia những lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao. Báo cáo này cũng xếp Việt Nam đứng vị trí 74/148 quốc gia, tăng 9 bậc so với năm 20228. Những chỉ số này cung cấp thêm căn cứ khách quan để đánh giá quá trình thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam. Việt Nam hiện là thành viên Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025 - 2027. Đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới và hợp tác quốc tế của Việt Nam.

Những đóng góp đó làm nên giá trị thực chất của bình đẳng giới. Bình đẳng giới tạo cơ hội để phụ nữ phát huy năng lực. Sự phát triển của phụ nữ tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển đất nước. Hai quá trình ấy tác động qua lại và cùng hướng tới mục tiêu phát triển con người, phát triển xã hội.

Phụ nữ Quân đội - một biểu hiện sinh động của quyền bình đẳng và trách nhiệm cống hiến

Phụ nữ Quân đội là lực lượng có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những năm tháng chiến tranh đến thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, các thế hệ phụ nữ Quân đội luôn giữ vững phẩm chất, bản lĩnh, ý chí và tinh thần trách nhiệm; có mặt trên nhiều lĩnh vực công tác. Nhiều cán bộ nữ trưởng thành trong hoạt động tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, quân y, nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, đối ngoại quốc phòng và công tác quần chúng; đảm nhiệm cương vị lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và chuyên môn ngày càng cao. Nhiều nữ quân nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ trong môi trường công tác khó khăn, gian khổ, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đặc biệt, phụ nữ Quân đội đã có những đóng góp thiết thực trong hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Hình ảnh nữ quân nhân Việt Nam trong các nhiệm vụ quốc tế góp phần lan tỏa phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Sự trưởng thành, cống hiến của phụ nữ Quân đội thể hiện rõ quan điểm bố trí, sử dụng cán bộ dựa trên phẩm chất, năng lực và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Môi trường Quân đội đã tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ nữ không ngừng rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành. Mỗi thành tích của họ đã góp phần khẳng định rõ hơn vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là minh chứng cụ thể cho một nội dung quan trọng của bình đẳng giới: quyền bình đẳng luôn gắn với trách nhiệm. Phụ nữ được tạo điều kiện cống hiến sẽ biến cơ hội ấy thành kết quả cụ thể. Giá trị của bình đẳng giới vì thế được thể hiện bằng năng lực, trách nhiệm và những đóng góp thực tế của mỗi người.

Những thành tựu về bình đẳng giới ở Việt Nam là minh chứng sinh động, khẳng định tính nhân văn, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà không ai có thể phủ nhận. Đó cũng là động lực quan trọng để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Đại tá PHAN ÁI XUÂN, Phụ trách Trưởng ban Phụ nữ Quân đội
_____________________
       

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 705.

2 - Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật - Bộ Tư pháp.

3 - Số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội khóa XI.

4 - Nguồn: https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid =27160&docid=23675.

5 - Nguồn: Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật - Bộ Tư pháp.

6 - https://daibieunhandan.vn/ket-qua-bau-cu-dbqh-khoa-xvi-va-dai-bieu-hdnd-cac-cap-nhiem-ky-2026-2031-chat-luong-dai-bieu-trung-cu-tiep-tuc-duoc-nang-len-ro-ret-10412325.html.

7 - https://phunuvietnam.vn/lao-dong-nu-chiem-hon-70-nhan-luc-khoi-don-vi-su-nghiep-238260714084657643.htm.

8 - https://phunuvietnam.vn/viet-nam-khang-dinh-no-luc-vi-binh-dang-gioi-tai-dien-dan-lien-hop-quoc-238260203 231342123.htm

Ý kiến bạn đọc (0)

Cảnh giác với thủ đoạn "chuyển hóa" thế hệ trẻ của các thế lực thù địch
​​​​​​​Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã không từ một thủ đoạn nào; trong đó, thế hệ trẻ là một trọng điểm của chúng. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm nhằm thúc đẩy “diễn biến” để “chuyển hóa” thế hệ rường cột của nước nhà. Do đó, cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước.