Thứ Ba, 06/10/2026, 11:29 (GMT+7)
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là chủ trương chiến lược của Đảng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, phát huy “tự chủ chiến lược” là yêu cầu, điều kiện quan trọng, cần được quán triệt, cụ thể hóa thành năng lực tự chủ thực chất, tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại.
Hiện nay, cục diện thế giới đang có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt; xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, thách thức an ninh phi truyền thống và những vấn đề toàn cầu diễn biến phức tạp, khó dự báo.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử,… đang làm thay đổi sâu sắc phương thức xây dựng, tổ chức lực lượng và tiến hành chiến tranh. Những biến động đó không chỉ làm thay đổi môi trường quốc phòng, an ninh mà đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với mỗi quốc gia trong việc củng cố năng lực tự chủ, nâng cao khả năng thích ứng, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Đối với Việt Nam, phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo là yêu cầu xuyên suốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa và phát triển chủ trương nhất quán đó trong bối cảnh mới, Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển đất nước: “... tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”1. Đây là sự phát triển mới về tư duy chiến lược, đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực tự quyết, tự lực và chủ động hành động trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường chiến lược.
Quán triệt tinh thần đó, “tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội cần được nhận thức, vận dụng phù hợp với đặc điểm, điều kiện Việt Nam. Trước hết là giữ vững sự tự chủ trong xác định mục tiêu, phương hướng, quyết sách xây dựng Quân đội; phát huy năng lực nội sinh trong xây dựng, phát triển tiềm lực quốc phòng gắn với chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế về quốc phòng, tranh thủ hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ. Vì thế, tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với khép kín hay tự cung, tự cấp, mà làm chủ những vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa chiến lược và năng lực tự quyết, tự hành động, biết kết hợp sức mạnh nội lực với ngoại lực để xây dựng Quân đội. Đây là yêu cầu rất quan trọng bảo đảm quá trình xây dựng Quân đội hiện đại diễn ra chủ động, vững chắc, không bị lệ thuộc, đồng thời phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của đất nước và quốc tế.
Để hiện thực hóa quan điểm “tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội hiện đại, cần nghiên cứu, quán triệt sâu sắc những yêu cầu mang tính nền tảng, có ý nghĩa định hướng sau.
Thứ nhất, bảo đảm sự thống nhất giữa tự chủ chiến lược về quân sự, quốc phòng với đường lối chính trị, đối ngoại và phát triển đất nước. Tự chủ chiến lược trong xây dựng Quân đội hiện đại không phải là một định hướng biệt lập, mà phải được đặt trong tổng thể đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, mọi chủ trương, giải pháp xây dựng Quân đội phải hướng tới tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây là cơ sở để phát huy tự chủ chiến lược về quân sự, quốc phòng trong sự thống nhất với tự chủ chiến lược của quốc gia, vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế; tránh tư duy khép kín, biệt lập hoặc rơi vào tình trạng phụ thuộc bên ngoài.
Thứ hai, xây dựng Quân đội hiện đại phù hợp với điều kiện, đặc điểm và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Hiện đại hóa Quân đội không đồng nghĩa với sao chép mô hình tổ chức, học thuyết quân sự hay phương thức tác chiến của các nước, mà phải trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành tựu tiên tiến của thế giới, vận dụng phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, truyền thống và nghệ thuật quân sự Việt Nam, điều kiện kinh tế - xã hội, địa hình và khả năng bảo đảm của đất nước. Do đó, phải lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm, xác định lộ trình phù hợp; bảo đảm phát triển đồng bộ giữa con người, tổ chức, vũ khí, trang bị, khoa học quân sự và phương thức tác chiến, lấy yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc làm mục tiêu cao nhất. Đây là yêu cầu quan trọng để quá trình hiện đại hóa Quân đội vừa tiếp cận trình độ tiên tiến, vừa giữ vững bản sắc, tính độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Thứ ba, xây dựng năng lực nội sinh về quân sự, quốc phòng đủ mạnh để bảo đảm tự chủ chiến lược. Tự chủ không chỉ được thể hiện ở chủ trương, quyết tâm mà phải được bảo đảm bằng năng lực thực tế và khả năng tự chủ thực chất. Vì vậy, cần xây dựng đồng bộ tiềm lực quốc phòng, trong đó chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, công nghiệp quốc phòng, hậu cần, kỹ thuật, cơ sở vật chất và khả năng tổ chức, chỉ huy, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Trọng tâm là từng bước nâng cao khả năng tự nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, bảo đảm và làm chủ các loại vũ khí, trang bị, công nghệ thiết yếu; chủ động chuẩn bị lực lượng, phương án, nguồn lực, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa tự chủ chiến lược với chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, biệt lập mà phải gắn với chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế, đối ngoại quốc phòng, Quân đội có điều kiện tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, công nghệ và tranh thủ nguồn lực phục vụ xây dựng, hiện đại hóa. Vấn đề đặt ra là phải chủ động, có chọn lọc, bảo đảm hợp tác hướng tới nâng cao năng lực nội sinh, củng cố tự chủ, không để phát sinh sự lệ thuộc, nhất là những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Đây là yêu cầu để vừa phát huy nội lực, vừa tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm cho hội nhập trở thành nguồn lực bổ trợ, động lực thúc đẩy, nhân tố gia tăng năng lực tự chủ của Quân đội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ năm, xây dựng cơ chế lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành khoa học, hiệu quả, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực tự chủ. Tự chủ chiến lược chỉ có thể trở thành năng lực thực tế khi được bảo đảm bằng cơ chế lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành đồng bộ, khoa học, hiệu quả. Do đó, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, chỉ huy; hoàn thiện cơ chế, chính sách; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và đề cao vai trò của cấp ủy, người chỉ huy, nhất là người đứng đầu. Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ và huy động các nguồn lực phục vụ hiện đại hóa Quân đội.
Trên cơ sở quán triệt những yêu cầu có tính nguyên tắc trên, để thực hiện có hiệu quả quan điểm “tự chủ chiến lược” trong xây dựng Quân đội hiện đại, cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp; trong đó, chú trọng một số vấn đề chủ yếu sau.
Một là, tiếp tục xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại; nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo, tạo nền tảng cho tự chủ chiến lược. Quá trình xây dựng Quân đội hiện đại phải thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng về xây dựng lực lượng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu tổ chức hợp lý, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; giảm đầu mối trung gian, nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý; bảo đảm cân đối, đồng bộ giữa các lực lượng, nhất là giữa lực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ, giữa lực lượng cơ động với lực lượng phòng thủ địa bàn.
Cùng với kiện toàn tổ chức, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo theo hướng thực chất, hiện đại, sát nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn và phương án tác chiến. Chú trọng huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị hiện có và trang bị mới; tăng cường huấn luyện trong điều kiện khó khăn, cường độ cao, môi trường tác chiến công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, xây dựng bản lĩnh, ý chí, kỷ luật và khả năng thích ứng của bộ đội. Đồng thời, đẩy mạnh chuẩn hóa, hiện đại hóa các nhà trường Quân đội; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực, tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết những vấn đề mới. Tăng cường đào tạo về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, ngoại ngữ và kiến thức hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu tự chủ chiến lược. Con người là chủ thể, nguồn lực quyết định quá trình xây dựng và phát triển năng lực tự chủ. Vì vậy, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xác định là khâu đột phá trong xây dựng Quân đội hiện đại. Theo đó, chú trọng đổi mới đồng bộ công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và trọng dụng nhân tài; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ mũi nhọn, kỹ thuật phức tạp và những ngành có ý nghĩa chiến lược; thực hiện có hiệu quả Đề án “Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ tham mưu chiến lược, cán bộ khoa học, kỹ thuật có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy độc lập, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học, công nghệ và những biến đổi của chiến tranh hiện đại. Chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, kỹ sư và nhân lực chất lượng cao trong những lĩnh vực mới, như: trí tuệ nhân tạo, robot, phương tiện không người lái, tác chiến điện tử, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, an ninh mạng và các công nghệ chiến lược khác. Qua đó, hình thành lực lượng nòng cốt có khả năng nghiên cứu, sáng tạo, làm chủ và từng bước phát triển các công nghệ lõi, công nghệ nền chiến lược, góp phần năng cao năng lực tự chủ, thúc đẩy hiện đại hóa Quân đội.
Ba là, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng công nghệ cho tự chủ chiến lược. Thực tiễn cho thấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành yếu tố trực tiếp tạo ra năng lực và sức mạnh chiến đấu. Vì vậy, tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cụ thể hóa phù hợp với đặc thù quân sự, quốc phòng. Trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý khoa học quân sự, tạo điều kiện cho các cơ sở nghiên cứu, học viện, nhà trường, doanh nghiệp quốc phòng phát huy tính chủ động, sáng tạo; ưu tiên nguồn lực cho các chương trình, nhiệm vụ có tính nền tảng, tạo đột phá và trực tiếp nâng cao năng lực tự chủ của Quân đội. Ưu tiên tiếp cận, nghiên cứu, làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và các công nghệ quân sự mới; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, công nghệ mô phỏng, phương tiện không người lái, tác chiến điện tử, an ninh mạng và các hệ thống chỉ huy, điều hành thông minh.
Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số đồng bộ trong các lĩnh vực huấn luyện, giáo dục - đào tạo, chỉ huy - điều hành, quản lý, hậu cần, kỹ thuật và nghiên cứu khoa học, hình thành hệ sinh thái dữ liệu và hạ tầng số thống nhất, an toàn, liên thông, phục vụ hiệu quả các hoạt động quân sự.
Bốn là, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật cho tự chủ chiến lược. Công nghiệp quốc phòng có vai trò nòng cốt trong tạo lập năng lực tự chủ về vũ khí, trang bị và bảo đảm kỹ thuật của Quân đội. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, xung đột và những biến động khó lường có thể tác động đến chuỗi cung ứng, thị trường và khả năng tiếp cận công nghệ, việc nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị trong nước càng trở nên cấp thiết. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển công nghiệp quốc phòng. Tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các lĩnh vực then chốt; ưu tiên làm chủ thiết kế, sản xuất, chế tạo đối với các sản phẩm vũ khí, trang bị, vật tư có ý nghĩa chiến lược, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại.
Cùng với đó, tăng cường liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu, học viện, nhà trường và doanh nghiệp quốc phòng; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước, tạo thành chuỗi nghiên cứu - thiết kế - sản xuất - bảo đảm tương đối hoàn chỉnh. Chuyển mạnh từ tư duy sản xuất theo nhu cầu trước mắt sang chủ động dự báo, nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm theo yêu cầu tác chiến tương lai. Phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ hiện đại hóa Quân đội, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội; từng bước hình thành năng lực tự chủ bền vững về công nghệ và sản phẩm quốc phòng.
Năm là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, mở rộng không gian chiến lược trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ. Tự chủ chiến lược không có nghĩa là đứng ngoài các dòng chảy hợp tác quốc tế. Trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh, hợp tác quốc tế là kênh quan trọng để mở rộng tri thức, tiếp cận thành tựu mới, đào tạo nhân lực, trao đổi kinh nghiệm và nâng cao năng lực của Quân đội. Vì vậy, tiếp tục triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng trong xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hợp tác, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định. Chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương, đa phương; mở rộng hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, cứu hộ, cứu nạn, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và những lĩnh vực phù hợp của Quân đội ta; kết hợp chặt chẽ đối ngoại quốc phòng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, tự chủ chiến lược là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quyết định đối với xây dựng Quân đội hiện đại trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc yêu cầu đó, cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp về tổ chức lực lượng, xây dựng nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, công nghiệp quốc phòng và đối ngoại quốc phòng; qua đó, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, từng bước tạo dựng sức mạnh tự chủ để hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Đại tá, ThS. NGUYỄN MINH THÀNH, Chủ nhiệm bộ môn, Khoa Lịch sử nghệ thuật quân sự, Học viện Chính trị
1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 84.
Tự chủ chiến lược,Quân đội nhân dân Việt Nam,nguồn nhân lực
Lý luận về đường lối đổi mới - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử 05/10/2026
Những điểm mới về quyền con người trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng 05/10/2026
Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 30/09/2026
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 28/09/2026
“Hai ngăn ngừa” - tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa 24/09/2026
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (tiếp theo) 17/09/2026
Học viện Quốc phòng tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 290-NQ/QUTW 10/09/2026
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới 09/09/2026
Tư duy mới của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong kỷ nguyên mới 04/09/2026
Phát huy sức mạnh văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới 28/08/2026
“Xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc” - phương thức tổ chức sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng (tiếp theo)
Học viện Quốc phòng tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 290-NQ/QUTW
“Hai ngăn ngừa” - tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
Những điểm mới về quyền con người trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Lý luận về đường lối đổi mới - giá trị bền vững và tầm vóc lịch sử