Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Hai, 19/09/2011, 02:12 (GMT+7)
Đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng


Trung tướng Nguyễn Song Phi, Phó Tổng Tham mưu trưởng phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học về ra-đa lần thứ 5, do Bộ Quốc phòng tổ chức (tháng 8-2011)
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh quan điểm phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Điều đó đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ gắn với bảo vệ môi trường trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự nghiệp xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” cũng đang đòi hỏi quân đội ta phải có những giải pháp đồng bộ để đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường (KHCN&MT) nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Khoa học, công nghệ và môi trường là những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. Trong hơn hai thập kỷ qua, cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ còn được Đảng ta xác định là quyết sách hàng đầu để phát triển. Những năm gần đây, hằng năm, Việt Nam đã dành chi một khoản ngân sách không nhỏ để phát triển khoa học và công nghệ. Nhờ vậy, khoa học, công nghệ của Việt Nam đã có thể gọi là “nền” và đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Cùng với nền khoa học, công nghệ nước nhà, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, hoạt động KHCN&MT trong quân đội cũng đã có bước phát triển mới đáng ghi nhận. Cơ quan quản lý, nghiên cứu hoạt động KHCN&MT được tổ chức thành hệ thống từ cơ quan của Bộ Quốc phòng đến các quân khu, quân đoàn, học viện, nhà trường trong toàn quân, cũng như được chỉ đạo thống nhất và hoạt động ngày càng nền nếp, hiệu quả. Việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ quân sự được chú trọng cả về con người và cơ sở vật chất. Theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học, công nghệ được tăng cường về số lượng, chất lượng; cơ sở, trang thiết bị làm việc và hệ thống phòng thí nghiệm, trong đó có các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được triển khai khá đồng bộ. Chính điều này đã tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đông đảo cán bộ quân đội tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ quân sự.

Kết quả nghiên cứu KHCN&MT của các đơn vị quân đội thời gian qua đã cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, phát triển công nghiệp quốc phòng trong thời kỳ mới. Kết quả nghiên cứu đó còn là cơ sở giúp cho các viện, học viện, nhà trường quân đội xác định mục tiêu, phương hướng trong nghiên cứu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, đảm bảo cho hướng nghiên cứu bám sát yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, việc nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mũi nhọn, như: công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học... đã mang lại hiệu quả thiết thực trong lĩnh vực chỉ huy; trong điều hành huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; trong việc bảo quản, sửa chữa, cải tiến, nâng cao tuổi thọ của vũ khí, khí tài và trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo, sản xuất các sản phẩm quốc phòng.

Đi đôi với nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ quân sự, hoạt động bảo vệ môi trường của quân đội cũng đã đạt những kết quả bước đầu. Quân đội đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong việc điều tra, xử lý và khắc phục chất độc hóa học, bom mìn, vật nổ tồn lưu sau chiến tranh. Các đơn vị trong toàn quân và hầu hết các doanh nghiệp quân đội cũng đi đầu trong việc tạo cảnh quan, xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải sản xuất, đảm bảo môi trường xanh, sạch đẹp, góp phần nâng cao sức khỏe của bộ đội và nhân dân trên các địa bàn đóng quân.

Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà khoa học Việt Nam, trình độ khoa học, công nghệ của chúng ta đi sau khoảng hai thập kỷ so với nhiều nước trong khu vực và đi sau nhiều thập kỷ so với các nước tiên tiến trên thế giới. Lĩnh vực khoa học, công nghệ quân sự của Việt Nam cũng ở tình trạng tương tự. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ trong quân đội chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng. Số cán bộ chuyên gia đầu ngành còn ít và đặc biệt hiếm ở một số ngành. Cơ sở vật chất và môi trường, điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm trong quân đội tuy có cải thiện nhưng nhìn chung còn lạc hậu và thiếu đồng bộ. Trước thực tế đó, để đẩy mạnh hoạt động KHCN&MT quân sự lên một bước mới, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, nòng cốt là các cơ quan quản lý, nghiên cứu về lĩnh vực này cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1- Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường vào hoạt động thực tiễn trong quân đội.

Hầu hết các văn kiện tại Đại hội XI của Đảng đều đề cập đến vai trò của khoa học, công nghệ và đặt ra yêu cầu bức thiết của vấn đề bảo vệ môi trường. Đảng ta khẳng định: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại... Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân”1. Quán triệt tinh thần đó, cán bộ, chiến sĩ cần thấy rõ khoa học, công nghệ quân sự giữ vai trò quan trọng trong xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Phát triển khoa học, công nghệ quân sự vừa là bước đi trước hết của phát triển công nghiệp quốc phòng, vừa là cơ sở để xây dựng trong tương lai một quân đội tri thức có khả năng vận dụng các phương thức tác chiến hiện đại trong điều kiện mới. Vì vậy, phát triển khoa học, công nghệ quân sự cần được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và sự tham gia của đông đảo cán bộ, sĩ quan. Theo đó, các cơ quan quản lý, nghiên cứu KHCN&MT cần đầu tư công sức, trí tuệ để nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng và người chỉ huy trực tiếp về chiến lược phát triển khoa học, công nghệ quân sự (trong đó xác định rõ mục tiêu, giải pháp, lộ trình thực hiện và bước đi trong từng giai đoạn) của cơ quan, đơn vị mình. Đó chính là biểu hiện của việc cụ thể hóa quan điểm về phát triển khoa học, công nghệ của Đại hội XI vào lĩnh vực quân sự, quốc phòng.

Trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận, các cơ sở nghiên cứu, giáo dục và đào tạo cần đẩy mạnh phát triển, bổ sung nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện tác chiến hiện đại và nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Kết quả nghiên cứu phải được áp dụng vào thực tiễn tổ chức, xây dựng quân đội; thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân và động viên quốc phòng. Riêng về vấn đề môi trường, các đơn vị chức năng cần có các bước khảo sát, đánh giá toàn diện về sự tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động quân sự, quốc phòng và ảnh hưởng của chất độc hóa học, bom mìn tồn lưu sau chiến tranh đối với sức khỏe của nhân dân. Từ kết quả khảo sát, quân đội phải chủ động đề xuất với Đảng, Nhà nước các giải pháp khắc phục, cũng như tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền và các ngành trong việc xử lý chất độc, bom mìn và triển khai các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu.

2- Tiếp tục đổi mới công tác quản lý và nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách về phát triển, ứng dụng KHCN&MT quân sự.

Đổi mới công tác quản lý là yêu cầu đặt ra thường xuyên, song hiện nay, chúng ta cần đổi mới công tác quản lý KHCN&MT quân sự theo hướng tăng tính tự chủ, tăng tính chuyên nghiệp cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học quân sự. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải cụ thể hóa chủ trương, chính sách phát triển khoa học, công nghệ của Đảng thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động KHCN&MT trong quân đội. Mặt khác, phải cải cách mạnh mẽ về tổ chức và phương thức quản lý, đảm bảo có tổ chức quản lý gọn, mạnh, hiệu quả, có phương thức quản lý phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động quân sự và phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Trong quá trình đổi mới về tổ chức và phương thức quản lý, cần chú ý việc nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ quân đội; đa dạng hóa nguồn ngân sách bảo đảm cho các hoạt động khoa học, công nghệ quân sự; thay đổi phương thức quản lý, từ quản lý chiều rộng sang quản lý chiều sâu, có trọng điểm, ưu tiên các chương trình, đề án đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.  

Lĩnh vực KHCN&MT quân đội đã và đang thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Vì nhiều nguyên nhân, chúng ta gặp không ít khó khăn ngay từ "nguồn" đầu vào của đội ngũ này. Bởi vậy, cùng với nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, cần có một chính sách đãi ngộ, thậm chí là đãi ngộ đặc biệt để thu hút nhân tài vào quân đội, cũng như để khuyến khích, khơi dậy niềm đam mê sáng tạo và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ hiện tại.

3- Chú trọng phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ quân sự.

Đây là vấn đề lớn cần sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước và sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Bộ Quốc phòng. Phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ quân sự thường đòi hỏi nhiều thời gian do liên quan đến việc đào tạo nhân lực và sự phụ thuộc vào khả năng của nền kinh tế. Vì vậy, cần quán triệt quan điểm tạo sức mạnh tổng hợp trong phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ quân sự. Theo đó, kết hợp nhiều loại hình đào tạo, bao gồm cả tự đào tạo, liên kết đào tạo và cả đưa cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Trong quá trình đào tạo hoặc cử cán bộ đi đào tạo, phải chú trọng đào tạo cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao, trước mắt đáp ứng với yêu cầu chuyển giao công nghệ là chủ yếu, nhưng về lâu dài phải hướng đến mục tiêu tự nghiên cứu, chế tạo và sản xuất. Về việc tuyển dụng cán bộ cũng cần có nhiều hình thức, trong đó phải gắn đào tạo với sử dụng, kết hợp tuyển dụng cán bộ từ các trường đại học ngoài quân đội. Ngoài ra, quân đội có thể thuê, thậm chí là tuyển dụng các chuyên gia giỏi của nước ngoài (trong đó chú ý người gốc Việt) vào một số lĩnh vực nghiên cứu, chế tạo.

Cùng với phát triển nguồn nhân lực, cần đầu tư vốn và công nghệ để sớm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, như: hệ thống phòng thí nghiệm, nhà xưởng, khu vực thử nghiệm, trạm quan trắc, xưởng chế thử ..., một cách đồng bộ, nhằm tạo điều kiện và môi trường cần thiết cho công tác nghiên cứu, chế tạo và đánh giá kết quả. Tuy nhiên, đầu tư phải có chọn lọc, có tính toán đến chiều hướng phát triển, gắn với khai thác, sử dụng một cách hiệu quả và lâu dài.

4- Tăng cường hợp tác trong hoạt động KHCN&MT quân sự.

Trước hết, phải tăng cường hợp tác trong hoạt động KHCN&MT từ chính các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường và các cơ sở nghiên cứu trong quân đội với nhau. Đó chính là biện pháp kinh tế nhất để nâng cao trình độ quản lý, nghiên cứu và hàm lượng khoa học, công nghệ đối với mỗi cơ quan, cơ sở nghiên cứu. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý, nghiên cứu KHCN&MT quân đội các cấp còn phải chủ động hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài quân đội. Đặc biệt, cần coi xu thế hội nhập hiện nay là cơ hội để quân đội mở rộng hợp tác quốc tế nhằm "đi tắt đón đầu" về công nghệ, đảm bảo sớm đạt được các mục tiêu chủ yếu về phát triển lĩnh vực khoa học, công nghệ quân sự của đất nước. Đương nhiên, trong quá trình hợp tác, phải coi trọng cả hợp tác song phương và đa phương, trong đó tập trung vào việc đào tạo nhân lực, chuyển giao, tiếp nhận những lĩnh vực công nghệ cao, đặc thù; học hỏi, tìm kiếm bí quyết giải mã và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và với phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", lĩnh vực KHCN&MT của quân đội ta chắc chắn sẽ có bước chuyển biến mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

 Thiếu tướng PGS, TS. CAO TIẾN HINH

Cục trưởng Cục KH,CN&MT - Bộ Quốc phòng

                  

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 78.

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin, bài đã đưa

Quán triệt, vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào huấn luyện - đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các học viện, nhà trường Quân đội 18/05/2026

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của Nhân dân trong kỷ nguyên mới 12/05/2026

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại 11/05/2026

Để văn hóa luôn là động lực to lớn cho đất nước phát triển nhanh và bền vững 07/05/2026

“Dân là gốc” - quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 23/04/2026

Đẩy mạnh xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân hiện đại 16/04/2026

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV 14/04/2026

Quảng Ninh gắn phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 13/04/2026

Công tác chính trị, tư tưởng trong đảng - Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước 13/04/2026

Bốn kiên định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng với yêu cầu mới hiện nay 03/04/2026

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.