Thứ Ba, 26/05/2026, 00:48 (GMT+7)
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết
Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình, phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phải hành động mạnh mẽ, đột phá, hiệu quả. Để đạt được yêu cầu trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: đường lối đã rõ, đội ngũ cán bộ cơ bản hoàn thành, vấn đề quan trọng là tổ chức thực hiện: nói ít, làm nhiều, làm đến cùng. Đây chính là cam kết chính trị của Đảng, tạo dựng giá trị cốt lõi và uy tín quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Cam kết chính trị, xét ở bình diện lý luận và thực tiễn, là sự thống nhất giữa lời nói và hành động của một chủ thể quyền lực trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển, bảo đảm lợi ích của Nhân dân và đóng góp vào các giá trị chung của cộng đồng quốc tế. Khoảng cách giữa cam kết và thực thi chính là thước đo quan trọng nhất để đánh giá năng lực quản trị quốc gia.
Ở không ít quốc gia và ngay ở một số nơi trong nước ta, có những trường hợp “lạm phát cam kết”, khi những tuyên bố chính thức đưa ra với tần suất lớn nhưng lại thiếu cơ chế thực hiện hiệu quả, thiếu tính nhất quán và sự kiểm chứng bằng kết quả thực tiễn. Chính vì thế, tinh thần “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” của Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc: kiệm lời nhưng quyết liệt trong hành động, không chạy theo hình thức mà chú trọng kết quả thực chất, không dừng lại ở khởi xướng mà kiên trì theo đuổi đến cùng.
Tinh thần nói ít, làm nhiều có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã hình thành một hệ giá trị đề cao thực tiễn, coi trọng hiệu quả hành động hơn là lời nói. Những quyết sách chiến lược của dân tộc ta thường được chuẩn bị kỹ lưỡng, triển khai cẩn trọng, quyết liệt và bí mật, mang lại hiệu quả to lớn, tạo nên những bước ngoặt lịch sử. Tư duy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”,… không chỉ thể hiện trí tuệ, triết lý quân sự, ngoại giao cốt lõi của dân tộc ta, mà còn phản ánh một phong cách hành động: không phô trương nhưng quyết đoán, không ồn ào nhưng sâu sắc, bền bỉ, có hệ thống và hiệu quả.
Lịch sử đã ghi rõ, năm 1077, trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược, bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, đã thôi thúc hành động của cả đạo quân, tạo thành sức mạnh vô song, chiến đấu dũng cảm, chiến thắng oanh liệt, giành độc lập cho dân tộc. Mang ý nghĩa đó, bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Tết Kỷ Dậu 1969: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc - Nam xum họp, Xuân nào vui hơn!”1 cũng chính là lời hiệu triệu, lời dặn dò toàn Đảng, toàn dân, toàn quân “nói ít, làm nhiều”, quyết tâm chiến đấu đến cùng và chúng ta đã toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thỏa lòng mong đợi của Bác và khát vọng của toàn dân tộc.
Trong dòng chảy đầy biến động của thế giới đương đại, những tuyên bố chính trị nhiều khi trở nên dày đặc hơn cả hành động thực tiễn, thì triết lý hành động nhất quán của Việt Nam: “Nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” là một trong những điểm đáng chú ý. Đây không phải là khẩu hiệu mang tính biểu tượng, mà đã trở thành một phương châm xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, quản trị quốc gia và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Từ những bước đi thận trọng nhưng kiên định trong công cuộc đổi mới, đến những quyết sách linh hoạt trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, Việt Nam đã và đang khẳng định một kiểu cam kết chính trị mang bản sắc riêng: không phô trương, không ồn ào, nhưng sâu sắc, bền bỉ và hiệu quả.
Trong quản trị quốc gia hiện đại, phương châm “làm đến cùng” thể hiện rõ nét qua cách Việt Nam xử lý các vấn đề lớn, từ phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại đều có những cải cách thể chế. Đặc biệt, những năm gần đây, quyết tâm chính trị trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được thể hiện bằng những hành động cụ thể, liên tục và không có vùng cấm. Quá trình này không dừng lại ở các chiến dịch ngắn hạn mà được duy trì như một cơ chế thường xuyên, với sự tham gia của nhiều cơ quan và sự giám sát của xã hội. Chính sự kiên trì và nhất quán này đã góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy, hệ thống chính trị.
Trong phát triển kinh tế, cam kết “nói ít, làm nhiều” được thể hiện qua việc Việt Nam tập trung vào đổi mới thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy hội nhập quốc tế một cách chủ động. Thay vì đưa ra những mục tiêu quá tham vọng nhưng thiếu khả năng thực hiện, Việt Nam thường đặt ra các kế hoạch cụ thể, có lộ trình rõ ràng, gắn với nguồn lực thực tế. Kết quả là trong nhiều năm liên tiếp, nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, ổn định kinh tế vĩ mô và từng bước nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Những thành tựu này không phải là kết quả của những tuyên bố lớn, mà là của hàng loạt chính sách cụ thể được triển khai đồng bộ và kiên trì.
Đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Đại hội XIV của Đảng đưa ra quan điểm chỉ đạo rất ngắn gọn: “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu thường xuyên”2. Quan điểm của Đảng nói ngắn gọn nhưng phải thực hiện nhiều công việc. Đó là xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước”3.
Đồng thời, triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các ngành, các cấp, các địa phương chủ động ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước”4. Như vậy, Đảng ta nói ít là đặt việc tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên. Làm nhiều là những công việc trọng đại nêu trên. Làm đến cùng chính là phải phục vụ đắc lực và tuyệt đối hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một minh chứng rõ nét cho cam kết chính trị mang tính hành động của Việt Nam là cách ứng phó với các thách thức toàn cầu như đại dịch, biến đổi khí hậu và chuyển đổi năng lượng. Trong đại dịch Covid-19 cũng như các đợt phòng, chống thiên tai, Việt Nam không chỉ đưa ra các thông điệp mạnh mẽ về bảo vệ sức khỏe người dân mà còn triển khai nhanh chóng các biện pháp phòng chống, huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc. Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng cách tiếp cận chủ động, linh hoạt và nhất quán đã giúp Việt Nam kiểm soát tình hình và phục hồi kinh tế tương đối nhanh. Điều quan trọng hơn là những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đã được tổng kết và chuyển hóa thành các chính sách dài hạn, thay vì chỉ dừng lại ở phản ứng tình thế.
Việt Nam cũng thể hiện một cách tiếp cận thực chất khi tham gia các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu bằng việc đưa ra những mục tiêu rõ ràng về giảm phát thải và chuyển đổi sang năng lượng sạch và xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy nền kinh tế xanh và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu được triển khai với sự tham gia của cả khu vực công và tư. Điều này cho thấy cam kết chính trị không chỉ dừng lại ở lời nói, mà được cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án, nguồn lực thực tế và phấn đấu đạt bằng được mục tiêu đã đề ra.
Điểm đáng chú ý là trong khi nhiều quốc gia lựa chọn cách tiếp cận truyền thông mạnh mẽ để quảng bá hình ảnh và chính sách của mình, Việt Nam lại thiên về cách làm “ít nói nhưng chắc”. Điều này không có nghĩa là Việt Nam không coi trọng truyền thông, mà là ưu tiên kết quả thực chất hơn. Khi các chính sách mang lại hiệu quả rõ ràng, sẽ trở thành thông điệp thuyết phục nhất. Cách tiếp cận này giúp tránh được tình trạng kỳ vọng quá cao so với khả năng thực hiện và tạo ra sự tin cậy lâu dài.
Tuy nhiên, phương châm “nói ít, làm nhiều” cũng đặt ra những yêu cầu không nhỏ đối với hệ thống chính trị và bộ máy quản lý. Để làm được nhiều và làm đến cùng, cần có năng lực tổ chức thực hiện cao, cơ chế phối hợp hiệu quả và đội ngũ cán bộ có trách nhiệm. Nếu thiếu những yếu tố này, việc “làm nhiều” có thể dẫn đến quá tải hoặc thiếu đồng bộ, còn “làm đến cùng” có thể gặp trở ngại trong quá trình triển khai. Do đó, “nói ít, làm nhiều”, “làm đến cùng” không chỉ là ý chí mà còn phải được bảo đảm bằng năng lực thực thi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp mới, yêu cầu “làm đến cùng” càng trở nên phức tạp khi các vấn đề ngày càng liên ngành, liên lĩnh vực và đòi hỏi sự phối hợp ở nhiều cấp độ. Việc xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số không chỉ là những mục tiêu chiến lược mà còn là phép thử đối với khả năng thực hiện cam kết chính trị. Những dự án chuyển đổi số nếu chỉ dừng ở kế hoạch hoặc triển khai nửa vời sẽ khó mang lại hiệu quả. Ngược lại, nếu được thực hiện một cách nhất quán, có lộ trình rõ ràng và được giám sát chặt chẽ, chúng sẽ tạo ra những bước chuyển mạnh mẽ trong phát triển.
Một khía cạnh quan trọng khác của cam kết chính trị là tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. “Nói ít” không đồng nghĩa với việc thiếu thông tin, mà cần đi đôi với việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời cho người thực hiện và rộng ra cho cả người dân. Khi người dân hiểu rõ mục tiêu, phương thức và kết quả của các chính sách, họ sẽ có cơ sở để giám sát và đồng hành cùng Nhà nước. Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo đảm rằng việc “làm nhiều” và “làm đến cùng” diễn ra đúng hướng và mang lại lợi ích thiết thực.
Thực tiễn cho thấy, niềm tin của xã hội không được xây dựng bằng những lời hứa, mà bằng những kết quả cụ thể và nhất quán theo thời gian. Khi người dân chứng kiến các chính sách được triển khai hiệu quả, các vấn đề được giải quyết đến nơi đến chốn, họ sẽ tin tưởng hơn vào hệ thống. Ngược lại, nếu có sự chênh lệch giữa lời nói và hành động, niềm tin sẽ bị xói mòn. Vì vậy, phương châm “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” không chỉ là một lựa chọn chiến lược mà còn là điều kiện để duy trì và củng cố niềm tin xã hội.
Trong tương lai, khi Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng và đối mặt với nhiều thách thức mới, cam kết chính trị mang tính hành động sẽ càng trở nên quan trọng. Những vấn đề như chuyển đổi năng lượng, già hóa dân số, cạnh tranh công nghệ hay những tác động địa chính trị từ bên ngoài đòi hỏi không chỉ tầm nhìn chiến lược mà còn khả năng triển khai, xử lý hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc giữ vững và phát huy phương châm “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” sẽ là một lợi thế quan trọng, giúp Việt Nam không chỉ thích ứng mà còn chủ động định hình tương lai.
Có thể nói, trong một thế giới đầy biến động, sự nhất quán giữa lời nói và hành động là một giá trị vô cùng cần thiết. Với cách tiếp cận thận trọng nhưng kiên định, Việt Nam đã và đang chứng minh rằng: để tạo ra những thay đổi lớn không nhất thiết phải từ những tuyên bố quá lớn. Trên cơ sở có chủ trương, kế hoạch rõ ràng, khoa học, chính những hành động cụ thể, được thực hiện một cách bền bỉ và đến cùng, mới là nền tảng vững chắc cho sự phát triển và uy tín quốc gia.
Phương châm “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” vì thế không chỉ là một khẩu hiệu, mà còn là một triết lý hành động, một cam kết chính trị của Đảng, mang bản sắc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
GS, TS. VŨ VĂN HIỀN, Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản ______________________
1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 531 - 532.
2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 82.
3 - Sđd, tr. 113.
4 - Sđd, tr. 117.
Nói ít,làm nhiều,làm đến cùng,cam kết chính trị của Đảng,quản trị quốc gia,kỷ nguyên mới
Quán triệt, vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào huấn luyện - đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các học viện, nhà trường Quân đội 18/05/2026
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của Nhân dân trong kỷ nguyên mới 12/05/2026
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại 11/05/2026
Để văn hóa luôn là động lực to lớn cho đất nước phát triển nhanh và bền vững 07/05/2026
“Dân là gốc” - quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 23/04/2026
Đẩy mạnh xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân hiện đại 16/04/2026
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV 14/04/2026
Quảng Ninh gắn phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng 13/04/2026
Công tác chính trị, tư tưởng trong đảng - Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn 40 năm đổi mới đất nước 13/04/2026
Bốn kiên định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng với yêu cầu mới hiện nay 03/04/2026
Để văn hóa luôn là động lực to lớn cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Quán triệt, vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào huấn luyện - đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các học viện, nhà trường Quân đội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của Nhân dân trong kỷ nguyên mới
Nói ít, làm nhiều, làm đến cùng - cam kết chính trị của Đảng trong kỷ nguyên mới