Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Năm, 11/06/2026, 13:20 (GMT+7)
Độc lập, tự chủ - đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng ta

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, độc lập, tự chủ luôn là nguyên tắc xuyên suốt, giữ vai trò nền tảng, định hướng chiến lược trong hoạch định, triển khai đường lối đối ngoại của Đảng ta. Đây không chỉ là bài học lịch sử được đúc kết từ thực tiễn đấu tranh giành và giữ vững chủ quyền dân tộc, mà còn là kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình khu vực, thế giới và nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác đối ngoại đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả”1.

Ảnh minh họa. Nguồn: nhandan.vn

Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong quan hệ đối ngoại. Đồng thời cũng là thông điệp thể hiện rõ tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc và đóng góp tích cực vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên thế giới. Quan điểm trên của Đảng về quan hệ đối ngoại chứa đựng nhiều nội dung; trong đó nội dung cơ bản bao trùm là: độc lập, tự chủ. Vậy, quan điểm đó có những điểm mới gì? Vì sao Đảng ta tiếp tục khẳng định, nhấn mạnh nguyên tắc độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay?

Trước hết, cần khẳng định đây là quan điểm nhất quán của Đảng trong quan hệ đối ngoại. Nhất quán có nghĩa là lập trường không thay đổi. Tính nhất quán thể hiện trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn kiên định lập trường độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại. Tuy nhiên, nhất quán không đồng nghĩa với bất biến, mà luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với bối cảnh mới.

Điểm mới của quan điểm hiện nay ở chỗ không chỉ dừng lại ở khẳng định tầm quan trọng của việc giữ vững độc lập, tự chủ, mà còn nhấn mạnh đó là lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, là nguyên tắc của Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Mà đã là nguyên tắc thì không thể vi phạm, thỏa hiệp dưới bất cứ hình thức nào. Việt Nam luôn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, mong muốn hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Với tư duy đó, Việt Nam luôn coi trọng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là lẽ đương nhiên; nhưng đồng thời cũng luôn tôn trọng và coi lợi ích của đối tác như lợi ích của mình, giữ chữ “tín” trong quan hệ, hợp tác. Bởi chữ “tín” là cơ sở của lòng tin, có lòng tin mới có quan hệ hợp tác, không có lòng tin thì không thể có quan hệ hợp tác - “một sự bất tín, vạn sự bất tin”, “mất lòng tin là mất tất cả”. Đây không đơn thuần chỉ là việc quan hệ, hợp tác “làm ăn” cùng có lợi với các đối tác mà là phẩm chất, phong cách đối ngoại mang tính truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Với Việt Nam lòng tin là nền tảng, yếu tố quan trọng đảm bảo sự bền vững trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở đó, Việt Nam mong muốn các quốc gia trong quan hệ, hợp tác với mình cũng tôn trọng lợi ích chính đáng, mà lợi ích cao nhất là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Việt Nam không chấp nhận mọi âm mưu, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Đó là nguyên tắc “bất di, bất dịch” trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Về vấn đề này có thể có ý kiến băn khoăn: trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay, quan điểm đó của Đảng liệu có “cứng” quá không? Có gây bất lợi trong quan hệ đối ngoại không? Câu trả lời là không! Quan điểm độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại của Đảng không những không “cứng”, mà còn rất đúng và phù hợp với môi trường quan hệ quốc tế đan xen lợi ích, nhạy cảm, phức tạp hiện nay. Việt Nam nhận thức rõ rằng, sự thẳng thắn, minh bạch và nhất quán trong lập trường là yếu tố hết sức quan trọng để xây dựng lòng tin và thiết lập, duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài, ổn định, bền vững. Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Thà mất lòng trước hơn được lòng sau” cũng là như vậy. Bởi thế nó không hề gây bất lợi trong quan hệ đối ngoại; trái lại, còn tạo thuận lợi là đằng khác, vì không mất thời gian tính toán, cân nhắc việc nên hay không nên quan hệ, hợp tác. Những ai đồng quan điểm, có thiện ý quan hệ, hợp tác với chúng ta thì họ là đối tác. Còn những ai không thật lòng quan hệ, hợp tác hoặc chỉ lợi dụng quan hệ, hợp tác để nhằm mục đích không trong sáng thì họ chắc chắn không phải đối tác, thậm chí nếu có âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam thì họ là đối tượng. Như vậy, quan điểm: giữ vững độc lập dân tộc là “lằn ranh đỏ” không thể đụng đến trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, dễ cho cả ta và người (đối tác, đối tượng) trong việc ứng xử, lựa chọn quan hệ, hợp tác. Với ta và đối tác thì đã rõ, không có gì phải đề cập thêm, còn với đối tượng thì buộc họ phải cân nhắc kỹ thiệt hơn và dè chừng cái giá phải trả nếu nhằm mục đích chống phá.

Trong đường lối đối ngoại của Đảng, nội dung “độc lập” không chỉ dừng lại ở độc lập về mục tiêu và lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, mà còn được thể hiện ở độc lập trong tư duy và hoạch định chính sách đối ngoại. Đảng ta chủ động phân tích tình hình thế giới, khu vực dựa trên điều kiện cụ thể của Việt Nam không sao chép mô hình hay phụ thuộc vào quan điểm của bất kỳ quốc gia nào; việc giữ vững lập trường độc lập giúp chúng ta có tiếng nói riêng, không bị cuốn theo các xu hướng hay áp lực từ bên ngoài. Việt Nam chủ động lựa chọn đối tác, hình thức hợp tác và mức độ hội nhập phù hợp với khả năng và lợi ích của mình. Độc lập còn thể hiện ở bản lĩnh giữ vững lập trường trong xử lý các vấn đề quốc tế; trong các diễn đàn đa phương, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, như: tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình,... đồng thời, thể hiện quan điểm rõ ràng, nhất quán trước những vấn đề phức tạp, không để bị chi phối, v.v.

Về vấn đề tự chủ” trong quan hệ quốc tế. Đây là yếu tố then chốt đối với Việt Nam, cũng như các nước trong quan hệ quốc tế. Quyền tự chủ của một quốc gia có quan hệ khăng khít với độc lập dân tộc. Có giữ vững được tự chủ trên các lĩnh vực trong quan hệ, hợp tác với các đối tác mới bảo vệ được độc lập dân tộc. Nếu không giữ vững được tự chủ đồng nghĩa với mất quyền chủ động, lệ thuộc vào nước ngoài, rơi vào thế bị động trong thực hiện các quyết sách của quốc gia. Một khi mất quyền tự chủ là tự đánh mất mình. Khi đó nước ta sẽ chỉ là quân cờ trên bàn cờ địa chính trị để nước ngoài mặc sức giật dây, sai khiến, sẽ không có vai trò gì trong các vấn đề quốc tế và vì thế độc lập dân tộc cũng sẽ bị đe dọa. Trong lĩnh vực quân sự, đấu tranh vũ trang, tự chủ tức là giữ quyền chủ động, mà quan trọng nhất là quyền chủ động tác chiến. Ở những phạm vi khác nhau, giữ hoặc không giữ được quyền chủ động tác chiến sẽ có kết quả tương ứng. Đối với cấp chiến thuật, chiến dịch, nếu phạm sai lầm dẫn tới mất quyền chủ động tác chiến có thể sẽ thua một vài trận đánh. Nhưng ở cấp chiến lược, mất quyền chủ động tác chiến chiến lược sẽ là một sai lầm lớn không thể cứu vãn, thất bại cả cuộc chiến là không tránh khỏi. Quyền tự chủ chiến lược trong quan hệ đối ngoại cũng tương tự như vậy.

Trong bối cảnh quan hệ quốc tế đan xen lợi ích, phức tạp hiện nay, các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,... có mối quan hệ mật thiết, chi phối, tác động lẫn nhau; thêm vào đó trong quan hệ, hợp tác đối tác, đối tượng đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, việc nhận diện không phải lúc nào cũng rõ ràng. Vì thế, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cẩn trọng, tránh việc chỉ thấy lợi ích trước mắt mà không chú ý đến lợi ích lâu dài hoặc chỉ nhìn một mặt, một chiều mà không tư duy toàn cục. Ví như trong quan hệ, hợp tác kinh tế, thương mại tránh rơi vào “cái bẫy” của nước lớn, từ đó dẫn tới lệ thuộc về kinh tế như một số nước đã từng mắc phải. Đó là bài học nhãn tiền, rất quý đối với nước ta. Bởi từ lệ thuộc về kinh tế dễ dẫn tới lệ thuộc về chính trị. Mà khi đã lệ thuộc về chính trị thì rất khó giữ được chế độ, bảo vệ được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cho nên trong quan hệ, hợp tác với nước ngoài, bất kể ở lĩnh vực nào chúng ta cũng phải luôn giữ vững tự chủ chiến lược. Tất nhiên, để giữ vững tự chủ, chúng ta phải mạnh, phải tự cường. Còn nếu ta yếu, bị lệ thuộc, phụ thuộc nước ngoài thì sẽ rất khó giữ được tự chủ. Cũng như vấn đề độc lập dân tộc, giữ vững tự chủ trong quan hệ đối ngoại là nguyên tắc, quan điểm nhất quán của Đảng ta.

Tình hình thế giới hiện đang diễn biến phức tạp, biến động nhanh và rất khó lường. Nổi bật là xung đột, chiến tranh xảy ra ở một số khu vực chưa có hồi kết; các nước lớn cạnh tranh quyền lực gay gắt, thực hiện điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, bất chấp luật pháp quốc tế,... tác động xấu về nhiều mặt đối với toàn cầu, quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh đó, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại nhất quán của mình, tích cực quan hệ, hợp tác, hội nhập quốc tế, tạo nguồn lực cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia; trong đó có 42 đối tác chiến lược và toàn diện, riêng đối tác chiến lược toàn diện là 15 đối tác, bao gồm tất cả 05 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 200 thị trường tại các châu lục, ký kết tham gia hàng trăm hiệp định song phương và đa phương. Cùng với đó, Việt Nam nỗ lực là thành viên tích cực, có trách nhiệm cao trong cộng đồng quốc tế; chủ động tham gia có hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động cứu trợ, giúp đỡ, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, v.v.

Những kết quả trên bắt nguồn từ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, cốt lõi là quan điểm độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; qua đó khẳng định tiềm lực, vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế. Đó cũng là cơ sở, nền tảng vững chắc để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, đậm đà bản sắc “ngoại giao Hồ Chí Minh” với ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, thiết thực góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thiếu tướng NGUYỄN MẠNH HÙNG, Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân
____________________
       

1 - ĐCSVN –  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thú XIV, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 280 - 281.

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.