Thứ Sáu, 09/01/2026, 03:43 (GMT+7)
Bình luận - Phê phán Phòng, chống "DBHB"; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Quốc hội Việt Nam là cơ quan lập pháp mang tính kiến tạo để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, góp phần quan trọng đưa đất nước hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thành tựu nhiều mặt Quốc hội đạt được trong 80 năm qua đã bác bỏ mọi luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động đòi “đa nguyên, đa đảng”, nhằm xuyên tạc, kích động, hòng hạ thấp vai trò, uy tín của Quốc hội và hệ thống chính trị nước ta.
Tính chính đáng của Quốc hội Việt Nam đã bác bỏ luận điệu “đa nguyên, đa đảng”
Bằng những luận điệu cũ mòn, các “nhà dân chủ” giả hiệu và thế lực thù địch luôn rêu rao rằng, đa nguyên, đa đảng là một điều kiện tiên quyết, là sự khai mở cho một nền dân chủ của xã hội Việt Nam. Theo đó, họ đòi phải có đa ý thức hệ tư tưởng chính trị và coi đa nguyên chính trị là biểu hiện sự “năng động” của nền dân chủ trong xã hội.
Với các thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, lúc trắng trợn, lúc tinh vi, họ rắp tâm cổ súy đa nguyên, đa đảng, nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chính trị nước ta, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chính đáng của Quốc hội Việt Nam - cơ quan lập pháp có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quyền lực của nước ta trong 80 năm qua đã bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động phi lý đó.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”1. Theo đó, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức, bầu ra Quốc hội và đến tháng 11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã được Quốc hội thông qua, đánh dấu bước ngoặt lịch sử - Quốc hội Việt Nam trở thành một cơ quan lập hiến. Từ đây, các tổ chức, cơ quan chính trị của nhà nước dân chủ nhân dân chính thức được thành lập trên cơ sở dân chủ, có giá trị pháp lý chắc chắn, phù hợp với tình hình thực tế của dân tộc Việt Nam và đúng theo thông lệ pháp lý quốc tế. Đó là sự khẳng định tính chính danh của nhà nước cách mạng của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, tuyệt nhiên không phải là kết quả từ một cơ chế đa nguyên, đa đảng hay do tranh giành quyền lực giữa các phe phái, chính đảng.
Lịch sử cách mạng Việt Nam cũng đã chứng kiến sự ra đời, tồn tại của nhiều tổ chức chính trị. Năm 1945, trong thời gian đầu giữ chính quyền và bảo vệ nền độc lập dân tộc, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần, ngoài phần lớn thành viên Chính phủ là đảng viên Đảng Cộng sản, cũng có thành viên là người thuộc các đảng phái chính trị khác và người ngoài đảng. Sau bầu cử, tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa cũng là đảng viên Đảng Cộng sản, ngoài ra còn có đại biểu đến từ Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Việt Quốc, Việt Cách, cùng các nhân sĩ, trí thức, người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khi quân Tưởng Giới Thạch rút đi, Việt Quốc và Việt Cách cũng theo chân, bỏ chạy theo sang Trung Quốc, lúc này, ở nước ta còn lại Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Sau đó, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cũng tuyên bố tự giải tán. Trên đất nước ta chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng đóng vai trò lãnh đạo, cầm quyền. Thực tế, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, Quốc hội Việt Nam cũng có nhiều thành phần tham gia, Chính phủ có lúc là liên hiệp, nhưng về chính trị là nhất nguyên. Tính nhất nguyên đó được thể hiện ở Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền; mục tiêu phát triển duy nhất của dân tộc Việt Nam, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là giá trị bất biến, không có chỗ cho đa nguyên chính trị.
Như vậy, ở Việt Nam không tồn tại bất cứ điều kiện nào cho đa nguyên, đa đảng. Và suốt 80 năm hoạt động của Quốc hội đã chứng minh, Quốc hội là tổ chức lập pháp mà trong đó có đủ đại diện các giai tầng, các giới, vùng miền, nhưng là tổ chức hoạt động vì lợi ích của dân tộc, thể hiện mọi quyền lực và quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân. Mục tiêu hoạt động duy nhất của Quốc hội là dân tộc độc lập, Nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc; đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu, phấn đấu đạt được hai mục tiêu 100 năm: “Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”2. Thực tiễn đó là không thể phủ nhận.
Quốc hội kiến tạo để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước
Cần khẳng định rằng, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ. Đa nguyên, đa đảng không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại, càng không phải là một giá trị vĩnh cửu, tồn tại trong tất cả các thời kỳ của một quốc gia - dân tộc. Đa nguyên, đa đảng có thể phù hợp với quốc gia - dân tộc này, nhưng không có nghĩa là khuôn mẫu cho tất cả các quốc gia - dân tộc. Điều đó minh chứng cho hiện trạng phong phú, đa dạng của các chế độ chính trị trên thế giới. Tùy vào hoàn cảnh, điều kiện phát triển riêng, mỗi quốc gia - dân tộc có quyền lựa chọn mục tiêu, con đường phát triển cho mình.
Hoạt động của Quốc hội nước ta cho thấy, không có lý do gì Việt Nam lại áp dụng một cơ chế đa nguyên, đa đảng. Dù núp dưới danh nghĩa nào, nếu ai đòi phải thực hiện đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam thì người đó không những tâm không lành, trí không sáng, mà bản lĩnh chính trị rất non kém. Thực tế cho thấy, chất lượng dân chủ của một xã hội tuyệt nhiên không phải do số lượng các chính đảng quy định. Trong bối cảnh cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với nhiều thành phần kinh tế khác nhau đang tồn tại, Quốc hội Việt Nam thể hiện sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, quyền tự do, bình đẳng của mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Tất cả những điều đó đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được thể chế hóa bằng pháp luật. Trong các kỳ họp của Quốc hội, những ý kiến khác biệt xuất phát từ động cơ trong sáng, đúng Hiến pháp và pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam đều được lắng nghe, chấp nhận.
Hơn nữa, dân chủ gắn liền với thiết chế nhà nước mà Quốc hội là biểu hiện rõ nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”3 và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”4. Dân chủ luôn đi liền với tự do. Theo đó, tự do là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Cái tất yếu chính là quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội. Khi con người đã nhận thức và làm đúng cái tất yếu đó thì mới có tự do đích thực. Không có thứ tự do tuyệt đối, bất chấp quy luật khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”5. Ngoài giá trị chung, mỗi một quốc gia - dân tộc đều có những quy định riêng, không có khuôn mẫu, chuẩn mực tuyệt đối nào chung.
Đa nguyên, đa đảng không chắc chắn sẽ dẫn tới tự do, dân chủ. Trên thế giới, có nhiều quốc gia phát triển theo mô hình đa nguyên, đa đảng, nhưng ở đó chính trị mất ổn định, xã hội rối ren, người dân không được bảo vệ ngay cả những quyền tối thiểu của mình. 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước ta đã thể hiện sự chế định của Hiến pháp và pháp luật, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh mọi hành xử của công dân để có tự do đích thực. Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng là nguyên tắc hoạt động của Quốc hội Việt Nam, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, vừa phản ánh bản lĩnh chính trị vững vàng cũng như trí tuệ sáng suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Hoạt động chất vấn của Quốc hội góp phần nâng cao chất lượng bảo đảm và phát huy dân chủ trong xã hội
Phản biện xã hội có vai trò rất quan trọng trong bảo đảm dân chủ trong xã hội nói chung, dân chủ trong Đảng nói riêng. Dân chủ trong Đảng được bảo đảm, là cơ sở để dân chủ trong xã hội mở rộng và phát huy. Trình độ dân chủ của Đảng được đo bằng chất lượng thể chế (cương lĩnh, nghị quyết, điều lệ và các chủ trương), chất lượng của cả đội ngũ cán bộ, đảng viên và chất lượng hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực tế. Ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng phản biện xã hội, trong nhiều kỳ họp của Quốc hội nước ta, nhất là các kỳ họp có những phiên thảo luận, chất vấn, trả lời chất vấn, các thành viên Chính phủ đã thể hiện rõ ý kiến đóng góp có tính chất phản biện. Đó là kênh ý kiến rất quan trọng, hiệu quả, thể hiện rõ nét quyền làm chủ của Nhân dân trong lĩnh vực lập pháp. Ngay trong việc tiến tới Đại hội XIV của Đảng, Quốc hội cũng đã tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến rất thiết thực vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội. Hơn thế nữa, Quốc hội nước ta cũng đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm và phát huy dân chủ xã hội. Trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, Đảng lãnh đạo, cầm quyền trên nền các quyền được Nhân dân giao phó; Nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; trong đó, Quốc hội đóng vai trò kiến tạo, Nhân dân làm chủ với sự giác ngộ chính trị. Đó là những điều kiện bảo đảm vững chắc cho nền dân chủ thực sự của đất nước.
Quốc hội là bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam do Đảng lãnh đạo là tất yếu, hoàn toàn không phải là do áp đặt như luận điệu thế lực thù địch rêu rao. Ngược lại, với tinh thần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng gần Nhân dân, sâu sát với Nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng phát huy vai trò là kênh phản biện quan trọng, phản ánh cụ thể những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, làm cơ sở quan trọng trong công tác lập pháp của Quốc hội, xây dựng chính sách của Chính phủ; tạo diễn đàn rộng rãi để Nhân dân phát huy tối đa quyền làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trải qua 80 năm, trong mọi hoạt động, Quốc hội Việt Nam luôn thể hiện rõ vị trí trung tâm của Nhân dân ta trong quyền lực nhà nước. Thực tế đó khẳng định, dân chủ ở Việt Nam và sự phát triển của đất nước hoàn toàn không phụ thuộc vào việc có đa nguyên, đa đảng hay không.
GS, TS. MẠCH QUANG THẮNG ____________________
1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 07.
2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 36.
3 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 434.
4 - Sđd, Tập 13, tr. 83.
5 - Sđd, Tập 10, tr. 378.
Phản bác,luận điệu,đa nguyên,đa đảng,thực tiễn 80 năm,Quốc hội Việt Nam
Sự thật về nhân quyền ở Việt Nam bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc 08/12/2025
Không thể chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt quân - dân 05/12/2025
Những đóng góp to lớn của Ph. Ăngghen đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học 07/11/2025
Không thể xuyên tạc quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân 06/11/2025
Không thể xuyên tạc, phủ nhận cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam 03/11/2025
Phản bác luận điệu phủ nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 06/10/2025
Xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới - động lực đột phá cho sự phát triển của quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình 27/09/2025
Sáp nhập địa giới hành chính - bước đi chiến lược để phát triển đất nước 18/09/2025
Xây dựng Quân đội hiện đại - tầm nhìn chiến lược của Đảng, mệnh lệnh từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, không thế lực nào có thể xuyên tạc 15/09/2025
Quân đội tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam 15/09/2025
Đấu tranh phản bác luận điệu “đa nguyên, đa đảng” - nhìn từ thực tiễn 80 năm Quốc hội Việt Nam