Nghiên cứu - Tìm hiểu Nghiên cứu - Trao đổi

QPTD -Thứ Năm, 21/04/2016, 07:57 (GMT+7)
Giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia đối ngoại quốc phòng trên lĩnh vực hậu cần quân sự của Học viện Hậu cần

Giao lưu, hợp tác trên lĩnh vực hậu cần quân sự là một nội dung trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Thời gian qua, Học viện Hậu cần đã tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ này với nội dung, hình thức phù hợp. Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra cho Học viện không ít vấn đề cần giải quyết.

Trong đối ngoại quốc phòng, hậu cần là lĩnh vực ít nhạy cảm, dễ tìm được tiếng nói chung, nhu cầu tương đồng giữa các quốc gia. Vì vậy, đây là lĩnh vực thường được quân đội các nước quan tâm, chọn làm bước mở đầu, cầu nối cho sự hợp tác, hội nhập về quân sự, quốc phòng. Thực hiện chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta, thời gian qua, công tác đối ngoại quốc phòng đã được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo chặt chẽ, triển khai chủ động, toàn diện, trong đó có lĩnh vực hậu cần và thu được những kết quả tích cực.

Học viện Hậu cần là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hậu cần quân sự đầu ngành của Quân đội. Những năm qua, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành hậu cần quân sự, Học viện đã trực tiếp tham gia hoạt động đối ngoại quốc phòng bằng nội dung, hình thức phù hợp với đặc thù của mình. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, nhất là Nghị quyết 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013 của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và nhiệm vụ được Bộ Quốc phòng giao, Học viện đã tổ chức nhiều đoàn công tác, giao lưu, học tập, chia sẻ kinh nghiệm và tham gia các cuộc hội thảo khoa học, đối thoại về lĩnh vực hậu cần với quân đội một số nước. Từ năm 2013 đến nay, Học viện đã tổ chức 04 đoàn công tác, tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm với ngành hậu cần quân đội các nước: Bê-la-rút, Nam Phi, Xin-ga-po. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Học viện đã lựa chọn, cử một số cán bộ tham dự Hội thảo về “Xây dựng cơ chế hỗ trợ hậu cần” được tổ chức trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 7 (ADMM-7) tại Bru-nây, năm 2013 và tham dự 02 cuộc đối thoại “Sĩ quan hậu cần lục quân đa phương khu vực châu Á - Thái Bình Dương” tổ chức tại Nhật Bản (năm 2014, 2015). Mặc dù số lượng các chuyến công tác, trao đổi đối ngoại còn ít, nhưng các đoàn công tác của Học viện đều hoàn thành mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Qua đó, góp phần làm phong phú thêm hoạt động đối ngoại quốc phòng, tăng cường sự hiểu biết, mối quan hệ hợp tác với ngành hậu cần quân đội các nước, nâng cao vị thế của ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam và đóng góp vào việc thúc đẩy hội nhập trong lĩnh vực hậu cần quân sự, v.v.

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tham gia hoạt động đối ngoại của Học viện còn bộc lộ một số hạn chế và vấn đề bất cập nảy sinh. Đó là: tính chủ động trong đề xuất, xúc tiến các hoạt động tham gia đối ngoại quốc phòng của Học viện chưa cao. Các cuộc tham quan, trao đổi còn mang tính đơn lẻ, chưa gắn kết trong một chương trình, kế hoạch tổng thể, dài hạn; vì vậy, hoạt động của các đoàn công tác phần lớn là giao lưu, trao đổi đoàn, làm quan sát viên, nội dung trao đổi chuyên môn còn ở mức độ nhất định. Kỹ năng, kinh nghiệm đối ngoại, trình độ ngoại ngữ của cán bộ tham gia còn hạn chế. Đặc biệt, số lượng cán bộ, giảng viên của Học viện có đủ năng lực để tham gia đối thoại, hội thảo khoa học về các chuyên ngành hậu cần còn ít, v.v.

Trước yêu cầu cao của hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, để tiếp tục tham gia thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, đòi hỏi Học viện phải nghiên cứu, giải quyết nhiều vấn đề. Từ thực tiễn thời gian qua, theo chúng tôi, trước mắt, Học viện cần quan tâm thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Một là, chủ động xúc tiến nghiên cứu, xây dựng các kế hoạch, chương trình giao lưu, hợp tác về hậu cần quân sự, phù hợp với đặc điểm của Học viện. Đây là nội dung quan trọng, cơ sở cho chuẩn bị và thực hiện có chất lượng hoạt động đối ngoại, hợp tác về quốc phòng khi Học viện được tham gia. Với nỗ lực của các cấp, ngành, đến nay Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 60 nước. Theo các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, hằng năm, có nhiều hoạt động, chương trình hợp tác, hội thảo, đối thoại quốc tế về các lĩnh vực có liên quan đến hậu cần. Đáng chú ý là: đối thoại “Sĩ quan hậu cần lục quân đa phương khu vực châu Á - Thái Bình Dương” do Nhật Bản chủ trì, được tổ chức thường niên; các hội thảo về hoạt động hỗ trợ, cơ chế phối hợp hậu cần các nước ASEAN; diễn tập bảo đảm hậu cần trong hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, phòng chống thiên tai, thảm họa, v.v. Để tham gia có chất lượng vào các hoạt động đó, chủ động đề xuất, trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm và lý luận khoa học hậu cần quân sự, Học viện cần sớm xây dựng các kế hoạch, chương trình giao lưu, hợp tác, phù hợp với khả năng, thế mạnh của mình, báo cáo Bộ phê duyệt. Các kế hoạch, chương trình này phải xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, hình thức tham gia, nội dung trao đổi, làm việc, cũng như tiêu chuẩn, số lượng nhân sự tham gia, v.v. Đây là căn cứ pháp lý để Học viện chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan (Văn phòng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Cục Đối ngoại, Cục Cứu hộ, cứu nạn,…) triển khai thực hiện, nhất là lựa chọn, bồi dưỡng nhân sự, chuẩn bị nội dung,… nhằm tham gia đạt kết quả tốt nhất.

Hai là, tích cực tạo nguồn cán bộ, thành lập các nhóm nghiên cứu, chuẩn bị nội dung liên quan đến hợp tác hậu cần quân sự song phương, đa phương, sẵn sàng tham gia các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Ngày nay, giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hậu cần quân sự có nội hàm rộng, quy mô, hình thức đa dạng. Ngoài những nội dung hợp tác về hậu cần nhằm đối phó với thách thức an ninh truyền thống, có rất nhiều vấn đề mới nảy sinh thuộc an ninh phi truyền thống mà các quốc gia quan tâm chia sẻ, phối hợp. Mỗi lĩnh vực trên có đặc thù riêng, với lý luận và kinh nghiệm thực tiễn rất phong phú, liên tục phát triển. Vì vậy, để tham gia đầy đủ, có chất lượng, khẳng định vai trò là thành viên có trách nhiệm trong các hoạt động hội nhập, đối ngoại quốc phòng, đòi hỏi chúng ta phải quan tâm nghiên cứu, cập nhật thông tin để bổ sung tri thức, đặc biệt là tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam trong những lĩnh vực đó, làm cơ sở để trao đổi, chia sẻ, hợp tác. Thời gian qua, các đoàn công tác của Học viện tham gia hoạt động đối ngoại đã có nhiều cố gắng trong vấn đề này và đạt kết quả tích cực. Tiêu biểu như trong Đối thoại “Sĩ quan hậu cần lục quân đa phương khu vực châu Á - Thái Bình Dương” lần thứ 19 tổ chức tại Nhật Bản tháng 11-2015, trước rất nhiều chủ đề Ban tổ chức đưa ra, Học viện đã thành lập tổ tư vấn, nghiên cứu, chắt lọc, đầu tư xây dựng tham luận “Chuẩn bị hậu cần tại chỗ đáp ứng hoạt động hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa ở Việt Nam”. Tham luận đã được Hội nghị đánh giá cao và nhận được sự tán đồng của nhiều quốc gia trong khu vực. Phát huy thế mạnh là trung tâm nghiên cứu khoa học hậu cần quân sự hàng đầu của Quân đội, Học viện cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, nhất là với Tổng cục Hậu cần để sớm thành lập các nhóm nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hợp tác hậu cần quân sự. Mỗi nhóm có thể từ 05 đến 07 người, có khả năng ngoại ngữ, có kiến thức chuyên ngành sâu, am hiểu về nội dung hợp tác. Các nhóm này có nhiệm vụ tổng hợp, nghiên cứu, phân tích thông tin có liên quan, cả trong nước và ngoài nước, tổng kết, đúc rút thành lý luận có tính khoa học, hệ thống, sẵn sàng phục vụ cho hội nhập trong lĩnh vực hậu cần, trước mắt trực tiếp phục vụ cho các đoàn công tác của ngành Hậu cần và Học viện tham gia hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Nội dung nghiên cứu nên tập trung vào những “vấn đề nóng” đang được các quốc gia quan tâm, như: xây dựng cơ chế phối hợp, hỗ trợ hậu cần trong tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, viện trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai, thảm họa; bảo đảm hậu cần cho gìn giữ hòa bình, chống cướp biển, buôn lậu, v.v.

Ba là, nâng cao trình độ, kỹ năng ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhất là số trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng. Trong các cuộc hội thảo, đối thoại quốc tế, ngôn ngữ được sử dụng thường là tiếng Anh. Muốn đạt được mục đích, yêu cầu trong các hoạt động đó, đòi hỏi các đại biểu tham dự phải có khả năng tiếng Anh đáp ứng yêu cầu giao tiếp, nghe, hiểu và có thể trình bày tham luận của mình một cách mạch lạc, rõ ràng, chuẩn xác. Thực tế hiện nay, Học viện có đội ngũ cán bộ, giảng viên có kiến thức chuyên môn sâu, trong đó nhiều người là chuyên gia hàng đầu về các chuyên ngành hậu cần, song về trình độ, kỹ năng ngoại ngữ (tiếng Anh) chưa đáp ứng yêu cầu khi tham gia các cuộc hội thảo, đối thoại, giao lưu quốc tế. Ngược lại, số giảng viên có trình độ, khả năng tiếng Anh tốt (thuộc Khoa Ngoại ngữ) thì hiểu biết về lĩnh vực hậu cần quân sự còn ở mức độ nhất định, v.v. Giải quyết vấn đề này, đòi hỏi Học viện phải có các giải pháp quyết liệt, đồng bộ về lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế, chính sách. Theo đó, trước mắt Học viện tập trung triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung của Đề án “Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên giai đoạn 2015 - 2020 và những năm tiếp theo”; nghiên cứu đổi mới hình thức hoạt động của Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học; tiếp tục có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, giảng viên tự học nâng cao kỹ năng ngoại ngữ. Đồng thời, tăng cường tạo nguồn, cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài theo chương trình hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và một số quốc gia sử dụng tiếng Anh. Để đạt hiệu quả, cần phân loại đối tượng, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng kết hợp việc bồi dưỡng về trình độ, kỹ năng ngoại ngữ cho số cán bộ, giảng viên các chuyên ngành hậu cần và bồi dưỡng kiến thức hậu cần quân sự cho số giảng viên ngoại ngữ. Về lâu dài, cần nghiên cứu hợp tác đào tạo với học viện quân sự của một số nước và có thể mời giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy một số nội dung bằng tiếng Anh tại Học viện. Đây cũng là biện pháp góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế trên lĩnh vực hậu cần quân sự.

Bốn là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm chính trị, tri thức văn hóa, xã hội cho cán bộ tham gia hoạt động đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế. Đây là nội dung không thể xem nhẹ, nhất là trong bối cảnh giao lưu, hội nhập mạnh mẽ; đối tác, đối tượng đan xen như hiện nay. Theo đó, song song với bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng ngoại ngữ, cần coi trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm chính trị, tri thức văn hóa, xã hội cho đội ngũ cán bộ, giảng viên. Thực hiện vấn đề này, một mặt, Học viện tăng cường công tác giáo dục, quán triệt để cán bộ, giảng viên nắm vững quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc trong đường lối đối ngoại của Đảng, cũng như mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới và các quy định của cấp trên trong hoạt động này, v.v. Mặt khác, phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, phổ biến kinh nghiệm cho cán bộ trước khi tham gia hoạt động đối ngoại. Trong đó, chú trọng hướng dẫn về các nghi thức ngoại giao, phương pháp ứng xử, giao tiếp theo thông lệ quốc tế và truyền thống, văn hóa của quốc gia đối tác,… để họ tự tin hoàn thành nhiệm vụ được phân công, góp phần thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng là chủ trương chiến lược của Đảng. Các đơn vị trong toàn quân quán triệt, xác định rõ trách nhiệm, chủ động tham gia bằng nội dung, hình thức phù hợp. Từ thực tiễn tham gia đối ngoại quốc phòng trên lĩnh vực hậu cần quân sự của Học viện Hậu cần, có một số nội dung đề xuất để cùng trao đổi, vận dụng.

Đại tá, PGS,TS. PHẠM ĐỨC DŨNG, Phó Giám đốc Học viện

Ý kiến bạn đọc (0)

Giá trị nhân văn Hồ Chí Minh - nền tảng của sự phát triển xã hội
Nhân kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó giáo sư, Tiến sỹ Phạm Ngọc Anh, Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có bài viết "Giá trị nhân văn Hồ Chí Minh - nền tảng của sự phát triển xã hội" khẳng định, với bản chất và đặc trưng phổ quát, giá trị cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là nền tảng phát triển xã hội, kiến tạo hệ thống quan hệ xã hội mang đậm bản chất người và giá trị làm người chân chính.