Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Quán triệt, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Tư, 26/08/2026, 12:55 (GMT+7)
Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng

LTS: Trước bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn thách thức đan xen; để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới1. Đây là chủ trương chiến lược đúng đắn, mang tính đột phá của Đảng ta khi xác định rõ mục tiêu “xây dựng Quân đội hiện đại”.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, từ số 8/2026, Tạp chí Quốc phòng toàn dân trân trọng giới thiệu chùm bài viết: “Xây dựng Quân đội hiện đại - chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng” của nhóm tác giả: Cao Thành - Quang Hợp - Thanh Tùng - Bá Phú - Viết Vương - Văn Vượng.

I. Tư duy của Đảng về xây dựng Quân đội - từ khát vọng độc lập đến kỷ nguyên vươn mình

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

Suốt chặng đường hơn 80 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của Nhân dân, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta.

Đại tướng Phan Văn Giang kiểm tra khu trưng bày của Bộ Quốc phòng tại Triển lãm thành tựu đất nước 80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Nguồn: qdnd.vn

Khát vọng độc lập - khơi nguồn xây dựng đội quân cách mạng

Tổng kết thực tiễn lịch sử xã hội loài người, C. Mác và Ph. Ăngghen - lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chỉ rõ: “Toàn bộ lịch sử đã qua, trừ xã hội nguyên thủy, đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”2. Trong đấu tranh giai cấp, giai cấp nào muốn giành và giữ được quyền thống trị xã hội, đều phải tổ chức ra lực lượng vũ trang và lãnh đạo chặt chẽ lực lượng vũ trang đó. Kế tục và phát triển những quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen trong điều kiện mới - khi cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt ra trực tiếp, V.I. Lênin tiếp tục khẳng định: Bạo lực là “bà đỡ” cho mọi cuộc cách mạng. “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”3. Để giành và giữ chính quyền, xây dựng xã hội mới, giai cấp công nhân, mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản phải tổ chức ra quân đội công nông, đồng thời lãnh đạo chặt chẽ quân đội đó trong mọi tình huống, đây là nguyên tắc căn bản nhất.

Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, từ nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa đế quốc và thực tiễn kinh nghiệm cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa thực dân tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực. Độc lập tự do không thể cầu xin mà có được. Do vậy, “trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền4. Bạo lực cách mạng bao gồm bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang, để đấu tranh chính trị đòi hỏi phải xây dựng lực lượng chính trị; để đấu tranh vũ trang đòi hỏi tất yếu phải xây dựng và lãnh đạo chặt chẽ lực lượng vũ trang.

Với chủ trương đúng đắn đó, ngay từ khi ra đời, trong Chính cương vắn tắt (2/1930) Đảng ta đã xác định: “Tổ chức ra quân đội công nông”. Luận cương chính trị (10/1930) nêu vấn đề “lập quân đội công nông”, “tổ chức đội tự vệ công nông”. Đại hội lần thứ nhất (3/1935), Đảng ra nghị quyết riêng về Đội tự vệ, trong đó xác định rõ: “Công nông cách mạng Tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân ủy của Đảng Cộng sản”5 và “Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong Tự vệ thường trực”6. Thực hiện chủ trương của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, các đội vũ trang cách mạng đã lần lượt ra đời và ngày càng phát triển, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng đấu tranh cách mạng, như: Đội tự vệ cứu quốc, Du kích Bắc Sơn, Du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân I, Cứu quốc quân II, Cứu quốc quân III, v.v.

Đặc biệt, để chuẩn bị lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Kể từ đây, cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, tư duy của Đảng về xây dựng Quân đội cũng không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng.

Tàu ngầm 182-Hà Nội và Tàu ngầm 183-TP Hồ Chí Minh tại Quân cảng Cam Ranh.
Nguồn: qdnd.vn

Chiến tranh giải phóng và tư duy xây dựng Quân đội cách mạng, tiến lên chính quy, hiện đại

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 22/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL quy định về Quân đội quốc gia Việt Nam. Đây là văn bản có tính pháp lý nền tảng cho việc xây dựng bộ đội chủ lực của một quốc gia độc lập. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn phát triển mới, để giành thắng lợi quyết định, chúng ta không thể chỉ dựa vào chiến tranh du kích mà phải kết hợp cả đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Theo đó, các đại đoàn chủ lực có khả năng tiến hành các chiến dịch quy mô lớn lần lượt được thành lập, như: Đại đoàn 308 thành lập ngày 28/8/1949, tiếp sau đó là sự ra đời của các đại đoàn 304, 312, 320, 351, 316, 325, v.v. Đây là bước phát triển quan trọng, thể hiện tầm nhìn vượt trước của Đảng ta trong xây dựng Quân đội, với lực lượng chủ lực chính quy, có sức cơ động và trình độ hiệp đồng tác chiến ngày càng cao. Chính sự chuẩn bị chu đáo đó đã góp phần làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954. Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Bước vào giai đoạn mới, trước âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ bằng chính sách thực dân kiểu mới, tháng 9/1954, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng, trong đó xác định: “Cần phải xây dựng Quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại hóa7. Tháng 3/1957, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng cũng xác định “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy và hiện đại hóa8. Trong thư gửi cán bộ và chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm 14 năm Ngày thành lập Quân đội (22/12/1944 - 22/12/1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”9. Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) tiếp tục khẳng định: “Phải tăng cường củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội thường trực tiến lên chính quy và hiện đại”10. Đây là dấu mốc quan trọng đặt nền móng cho quá trình xây dựng Quân đội ta tiến lên chính quy, hiện đại.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội ta đã có sự phát triển vượt bậc, cả về quy mô lực lượng, tổ chức biên chế, vũ khí trang bị và phương thức tác chiến. Cùng với sự phát triển của chiến tranh nhân dân, bộ đội chủ lực cũng tăng mạnh, từ 17 vạn quân (1958) lên 30 vạn (1963), rồi 70 vạn (1966) và lên tới 1 triệu (1973)11. Đồng thời, các quân, binh chủng, lực lượng cũng không ngừng phát triển, như: Phòng không - không quân, Hải quân, Tăng thiết giáp, Pháo binh, Đặc công, Công binh, Thông tin liên lạc, v.v. Cùng với đó, các quân đoàn chủ lực, có khả năng cơ động và sức mạnh chiến đấu cao cũng đã lần lượt được ra đời, như: Quân đoàn 1 (10/1973), Quân đoàn 2 (5/1974), Quân đoàn 3 (3/1975), Quân đoàn 4 (7/1974), v.v. Chính với chủ trương đúng đắn, tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng Quân đội cách mạng, tiến lên chính quy, hiện đại, đã góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Lực lượng Tăng thiết giáp tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Nguồn: qdnd.vn

Bảo vệ Tổ quốc và khát vọng vươn mình - bước đột phá trong tư duy xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

Sau giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng Quân đội chuyển sang giai đoạn phát triển mới. Từ thực tiễn đó, qua các kỳ đại hội của Đảng, quan điểm, chủ trương về xây dựng Quân đội tiếp tục có sự kế thừa, bổ sung, phát triển theo hướng đặt mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tổng thể sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn liền với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Theo đó, Đại hội VI của Đảng (1986) xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao”12. Đại hội VII (1991) của Đảng cũng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý”13. Từ Đại hội VIII của Đảng (1996), mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trở thành chủ trương nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, bước sang thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, kéo theo sự ra đời của nhiều loại vũ khí hiện đại, cùng sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới; trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi ngày càng cao, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân”14. Đến Đại hội XIII, Đảng ta xác định rõ mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội hiện đại, trong đó khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”15. Chủ trương này thể hiện sự chuyển biến rõ nét từ định hướng “xây dựng Quân đội từng bước hiện đại” sang xác lập mục tiêu “xây dựng Quân đội hiện đại” theo lộ trình, bước đi cụ thể, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trước những biến đổi sâu sắc của môi trường an ninh và điều kiện thực tế của đất nước, cũng như yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Đặc biệt, sau 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh. Tổ chức lực lượng được điều chỉnh đồng bộ, hợp lý hơn; chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng cao; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả quan trọng. Trên nền tảng thế và lực mới của đất nước sau 40 năm đổi mới, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Đại hội XIV của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”16. Đây vừa là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư duy xây dựng Quân đội qua các thời kỳ của Đảng, vừa là dấu mốc đặc biệt quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, khi Đảng ta xác định rõ chủ trương “xây dựng Quân đội hiện đại”.

Có thể khẳng định, từ những đội quân cách mạng trong những ngày đầu gian khó, đến xây dựng Quân đội cách mạng, tiến lên chính quy, hiện đại trong chiến tranh giải phóng; rồi đến xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong bảo vệ Tổ quốc và bước vào kỷ nguyên vươn mình là cả một quá trình không ngừng phát triển về tư duy lý luận, sáng tạo trong lãnh đạo tổ chức thực tiễn của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Trên nền tảng chủ trương đúng đắn đó, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng; sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của Nhân dân; cùng sự nỗ lực phấn đấu, cống hiến, hy sinh quên mình của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó trong suốt hơn 80 năm qua.

Bước sang kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới, ngày càng cao. Theo đó, việc nắm chắc bối cảnh, định hướng chiến lược và những vấn đề đặt ra là rất quan trọng. Đây chính là cơ sở để hiện thực hóa chủ trương chiến lược của Đảng về xây dựng Quân đội hiện đại.
_____________________        

1 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 115.

2 - C. Mác và Ph. Ăng-Ghen – Toàn tập, Tập 20, Nxb CTQGST, H. 2002, tr. 905.

3 - V.I. Lênin – Toàn tập, Tập 37, Nxb CTQGST, H. 2005, tr. 145.

4 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 391.

5 - ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 5, Nxb CTQGST, H. 1999, tr. 94.

6 - Sđd, Tập 5, tr. 95.

7 - Sđd, Tập 15, H. 2001, tr. 306.

8 - Sđd, Tập 18, H. 2002, tr. 287.

9 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 585.

10 - ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 934.

11 - Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu – Xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” - yêu cầu chiến lược trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 05/6/2026.

12 - ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 372.

13 - Sđd, Tập 51, H. 2007, tr. 111 - 112.

14 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 149.

15 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 48 - 49.

16 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 380.

(Số sau: II. Xây dựng Quân đội hiện đại - bối cảnh, định hướng chiến lược và vấn đề đặt ra)

Ý kiến bạn đọc (0)

Các tin, bài đã đưa

Tỉnh Lạng Sơn đẩy mạnh thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược trong kỷ nguyên mới 20/08/2026

“Hai đẩy mạnh” - định hướng chiến lược xây dựng Quân đội trong tình hình mới 10/08/2026

Vùng Cảnh sát biển 1 quán triệt, thực hiện tốt “hai kiên định, hai đẩy mạnh, hai ngăn ngừa”, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo 06/08/2026

Phát triển kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo - nhiệm vụ trọng tâm có tính đột phá chiến lược 27/07/2026

“Hai kiên định” - nền tảng chính trị - tư tưởng vững chắc trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại 20/07/2026

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân và khu vực phòng thủ 25/06/2026

Tự chủ chiến lược - nhân tố cốt lõi trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa 18/06/2026

Độc lập, tự chủ - đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng ta 11/06/2026

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong kỷ nguyên mới - từ phát triển tư duy đến tổ chức thực hiện 08/06/2026

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị 05/06/2026

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.