Thứ Năm, 08/01/2026, 19:55 (GMT+7)
Hướng tới Đại hội XIV của Đảng
Trải qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta luôn có nhận thức, tư duy mới trên các lĩnh vực, trong đó có công tác đối ngoại. Kể từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng ta quyết định đổi mới toàn diện đất nước, thay đổi nhận thức, tư duy đối ngoại, tạo nền tảng để hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở. Đến Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, lần đầu tiên Đảng ta đưa nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, ngang tầm với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, thể hiện sự đột phá tư duy về chiến lược đối ngoại của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Những bước phát triển về tư duy đối ngoại qua các kỳ đại hội của Đảng trước Đại hội XIV
Đại hội VI của Đảng là dấu mốc về sự đổi mới mạnh mẽ tư duy đối ngoại. Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm về sự cần thiết phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng; nhận thức đúng xu thế mở rộng, phân công, hợp tác quốc tế giữa các nước, kể cả các nước có chế độ chính trị, kinh tế - xã hội khác nhau nhưng vẫn có thể hợp tác, tạo nền tảng cơ sở vật chất phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó, Đảng ta chủ trương “sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”1.
Sau gần hai năm thực hiện đường lối đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13/NQ-TW, ngày 20/5/1988 “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”; trong đó, khẳng định mục tiêu đối ngoại: “lợi ích cao nhất của Đảng và Nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”2. Đồng thời, đưa ra quan điểm chỉ đạo trong quan hệ quốc tế là “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập Việt Nam về kinh tế, chính trị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hòa bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ và đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Như vậy, Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng trên nhiều vấn đề then chốt thuộc lĩnh vực đối ngoại, “... là một cuộc đổi mới mạnh mẽ tư duy trong việc đánh giá tình hình thế giới, trong việc đề ra mục tiêu và chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của ta”3.
Đại hội VII (1991) của Đảng đã xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội thông qua tuyên bố: “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”4.
Cùng với đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đề ra chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước anh em trên bán đảo Đông Dương; phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á, tích cực góp phần xây dựng khu vực hòa bình, hợp tác; phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau với các nước đang phát triển; mở rộng hợp tác cùng có lợi với các nước phát triển.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (6/1992) đã ban hành nghị quyết riêng về công tác đối ngoại; trong đó, xác định nhiệm vụ đối ngoại, tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, phương châm xử lý các vấn đề quan hệ quốc tế; đề ra chủ trương rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, cả về đối ngoại Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, gìn giữ và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (01/1994) khẳng định: việc mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên thế giới, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một trong ba thành tựu của công cuộc đổi mới.
Như vậy, từ chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra tại Đại hội VI, sau đó được các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa VI, VII phát triển thành đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển”.
Trên cơ sở các thành tựu của công tác đối ngoại, Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội khẳng định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới”5; đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam theo những lộ trình phù hợp.
Sự phát triển tư duy đối ngoại được thể hiện rõ hơn trong Đại hội IX (2001) của Đảng. Lần đầu tiên, Đảng khẳng định phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”6.
Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đại hội VIII, IX thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đồng thời, phân biệt rõ chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Đồng thời, khẳng định phương châm đối ngoại của nước ta, từ “Việt Nam muốn là bạn”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy” thành “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế”7.
Đại hội XI (2011) của Đảng chủ trương “Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”8 triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại với 4 nội dung cơ bản: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn đọng về biên giới, lãnh thổ và bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Đại hội xác định mục tiêu đối ngoại là: “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc” gắn với mục tiêu “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”; về nhiệm vụ công tác đối ngoại, tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình; về nguyên tắc phải: “Bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”; về phương châm đối ngoại có điểm mới “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”9.
Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã được bổ sung và phát triển từ Đại hội VIII đến Đại hội XI một cách đồng bộ, toàn diện với tư duy mới là chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Đến Đại hội XII (2016), Đảng ta nhấn mạnh: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”10.
Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục đề ra các nhiệm vụ cho công tác đối ngoại là: “Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; đồng thời đóng góp vào phong trào đấu tranh chung của các lực lượng tiến bộ trên thế giới”. Đại hội xác định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”11.
Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên quyết; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân là chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện bước phát triển không ngừng về tư duy của Đảng trong lĩnh vực quan trọng này.
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng chủ trương đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên
Sau gần 40 năm đổi mới, sự phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về đối ngoại thể hiện ngày càng rõ ràng, đầy đủ và có nhiều đổi mới hơn về thời đại, môi trường quốc tế, thế giới, khu vực, về đối tác, đối tượng. Về những thành tựu đối ngoại, Dự thảo văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Đối ngoại cùng với quốc phòng, an ninh tăng cường bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; đóng góp tích cực, đầy trách nhiệm, mang tính xây dựng vào hòa bình, hợp tác”12. Đối ngoại đã góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. “Công tác đối ngoại được nâng tầm, đạt kết quả nổi bật, từ một nước bị bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20)...”13.
Mục tiêu công tác đối ngoại là: “Nhận thức ngày càng sâu sắc hơn mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó mục tiêu phát triển được đặt lên hàng đầu; vai trò của công tác đối ngoại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được coi trọng; nhiệm vụ nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nhấn mạnh”14.
Về nhiệm vụ đối ngoại, trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV xác định nhiệm vụ “đẩy mạnh” triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế “sâu rộng, toàn diện, hiệu quả”. Tiếp tục khẳng định thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Đồng thời, nhấn mạnh chủ trương “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”15.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển dịch sâu sắc về địa chính trị và cấu trúc quyền lực, việc gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại trở thành yêu cầu cấp thiết, tác động, hỗ trợ lẫn nhau. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đưa nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế lên ngang bằng với quốc phòng, an ninh, trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Đây chính là bước đột phá trong tư duy chiến lược đối ngoại của Đảng, thể hiện tầm nhìn mới về bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế./.
TS. DƯƠNG MINH HUỆ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ____________________
1 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H. 1987, tr. 30 - 31.
2 - Nguyễn Cơ Thạch - Những chuyển biến trên thế giới và tư duy của chúng ta, Tạp chí Quan hệ Quốc tế, số 1, tháng 1/1990, tr. 7.
3 - Sđd, tr. 9.
4 - Đảng Cộng sản Việt Nam -Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H. 1991, tr. 147.
5 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 120.
6 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 119.
7 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 112.
8 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 46.
9 - Sđd, tr. 83 - 84.
10 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 79.
11 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 80.
12 - Đảng Cộng sản Việt Nam - Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ các cấp), Nxb CTQGST, H. 2025, tr. 252.
13 - Sđd, tr. 252.
14 - Sđd, tr. 225.
15 - Sđd, tr. 37.
Sự phát triển,tư duy chiến lược,đối ngoại,hội nhập quốc tế,dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Phối hợp chặt chẽ, bảo đảm công tác phục vụ Đại hội chu đáo, an toàn tuyệt đối 07/01/2026
Khai mạc Triển lãm "Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội" 26/12/2025
Thông báo Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII 23/12/2025
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 15 22/12/2025
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng-Bài 3: Kiên định và sáng tạo phát triển kỷ nguyên Việt Nam giàu mạnh (Tiếp theo và hết) 12/12/2025
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới 11/12/2025
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 2: Đi con đường lịch sử “chưa một ai đi qua” 11/12/2025
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 1: Kiên định, trung thành và độc lập, sáng tạo 10/12/2025
Về nhiệm vụ, giải pháp quốc phòng, an ninh trong dự thảo Báo cáo tổng kết trình Đại hội XIV của Đảng 24/11/2025
Không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận về xây dựng Đảng trong kỷ nguyên mới - Bài 2: Những vấn đề đặt ra và giải pháp (tiếp theo và hết) 23/11/2025
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong giai đoạn cách mạng mới
Sự phát triển tư duy chiến lược về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 1: Kiên định, trung thành và độc lập, sáng tạo
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 15
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng-Bài 3: Kiên định và sáng tạo phát triển kỷ nguyên Việt Nam giàu mạnh (Tiếp theo và hết)
Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng - Bài 2: Đi con đường lịch sử “chưa một ai đi qua”
Khai mạc Triển lãm "Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội"
Thông báo Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII