Thứ Năm, 09/04/2026, 17:34 (GMT+7)
Nghiên cứu - Tìm hiểu Nghiên cứu - Trao đổi
Trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, đối ngoại quốc phòng có vai trò quan trọng; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là nòng cốt. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cần nâng cao hơn nữa hiệu quả mặt công tác quan trọng này với các giải pháp đồng bộ.
Đối ngoại quốc phòng là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng, do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiến hành. Đây là một trong những trụ cột quan trọng của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Mục tiêu xuyên suốt của đối ngoại quốc phòng là củng cố lòng tin, ngăn ngừa xung đột, xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trên nền tảng kế thừa truyền thống ngoại giao hòa hiếu, linh hoạt của dân tộc và tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, nhất là phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới được triển khai nhất quán theo đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng về hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Quân đội đã chủ động nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu kịp thời với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách phù hợp, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Vai trò tiên phong, nòng cốt của Quân đội trong lĩnh vực này trước hết thể hiện ở việc chủ động xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các quốc gia thông qua các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương và đa phương; tham gia tích cực các diễn đàn an ninh khu vực, quốc tế; đẩy mạnh trao đổi đoàn, giao lưu, triển lãm quốc phòng; tham gia tích cực và hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc1, cứu trợ nhân đạo, hỗ trợ ứng phó thảm họa, v.v. Cùng với đó, công tác đối ngoại quốc phòng cũng mở rộng hợp tác thực chất trong nghiên cứu khoa học quân sự, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, tạo động lực thúc đẩy hiện đại hóa Quân đội và phát triển công nghiệp quốc phòng, v.v. Qua đó, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, đồng thời lan tỏa hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng bạn bè quốc tế.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đặt ra ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, để phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chiến lược về đối ngoại quốc phòng. Đây là những nguyên tắc cơ bản, mang tính định hướng chiến lược, là “kim chỉ nam” trong tham mưu, tổ chức và triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chiến lược của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; nhất là quan điểm về thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; kiên định chính sách quốc phòng “4 không”2.
Trên cơ sở đó, cơ quan chức năng tham mưu, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động với mục tiêu, chỉ tiêu và lộ trình rõ ràng, sát yêu cầu nhiệm vụ; xác định đúng đối tác ưu tiên, lĩnh vực hợp tác trọng điểm và nguồn lực bảo đảm. Đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản, quy chế, quy định về đối ngoại quốc phòng theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ; kịp thời điều chỉnh khi tình hình biến động, bảo đảm mọi hoạt động đối ngoại quốc phòng luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc phòng.
Hai là, kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng ngang tầm nhiệm vụ. Tiếp tục rà soát, kiện toàn các cơ quan làm công tác đối ngoại quốc phòng theo hướng tinh, gọn, chuyên sâu, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm, bảo đảm thống nhất, chuyên nghiệp trong tham mưu và tổ chức thực hiện. Đồng thời, chuẩn hóa quy trình công tác, xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, theo dõi việc triển khai các thỏa thuận, cam kết hợp tác. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý văn kiện, bảo mật thông tin; từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ chỉ huy, điều hành công tác đối ngoại quốc phòng theo hướng chính quy, hiện đại.
Đặc biệt, cần coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có tư duy chiến lược, năng lực tham mưu sắc bén và khả năng xử lý linh hoạt các tình huống phức tạp. Thực hiện chặt chẽ công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa, chuyên sâu; chú trọng nâng cao trình độ ngoại ngữ, kiến thức luật pháp quốc tế, quan hệ quốc tế và kỹ năng đàm phán. Tăng cường rèn luyện thực tiễn thông qua tham gia hoạt động song phương, đa phương và môi trường công tác ở nước ngoài; đồng thời, có cơ chế sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển hợp lý, tạo động lực phấn đấu lâu dài, bảo đảm tính kế thừa và phát triển bền vững của đội ngũ cán bộ đối ngoại quốc phòng.
Ba là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội để theo dõi, nắm chắc, phân tích sâu các xu hướng vận động của môi trường an ninh khu vực và thế giới, nhất là tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự điều chỉnh chính sách quốc phòng của các quốc gia và những biến đổi mới về hình thái chiến tranh, an ninh phi truyền thống. Trên cơ sở đánh giá toàn diện, đa chiều, kịp thời nhận diện thời cơ, thách thức và những nhân tố có thể tác động trực tiếp, lâu dài đến chủ quyền, lợi ích quốc gia.
Các cơ quan chức năng cần kịp thời đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách phù hợp trong từng thời điểm, từng đối tượng, từng vấn đề cụ thể. Chủ động xây dựng, cập nhật các phương án xử trí đối với những tình huống phức tạp, nhạy cảm liên quan đến chủ quyền, biên giới, biển đảo và quan hệ với các đối tác quan trọng. Đổi mới phương pháp nghiên cứu theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa phân tích truyền thống với ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, mô phỏng kịch bản và phân tích xu hướng dài hạn, bảo đảm dự báo có căn cứ khoa học, tham mưu có tầm nhìn chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc phòng, nâng cao vị thế và uy tín của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế, diễn đàn quốc phòng - an ninh đa phương, nhất là trong khuôn khổ ASEAN; phát huy hiệu quả các cơ chế như ADMM+, ARF và các diễn đàn an ninh khu vực. Trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc và khả năng thực tế, lựa chọn nội dung phù hợp, đề xuất sáng kiến, tham gia thảo luận và đóng góp xây dựng, thể hiện vai trò thành viên có trách nhiệm, chủ động và tích cực trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, mở rộng hợp tác đa phương trong ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống, tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao năng lực phối hợp và xử lý tình huống.
Cùng với đó, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương theo hướng thực chất, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác truyền thống. Xử lý hài hòa quan hệ, giữ vững thế cân bằng chiến lược, tạo đan xen lợi ích, góp phần củng cố môi trường đối ngoại thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chuẩn bị chu đáo về lực lượng, huấn luyện, hậu cần - kỹ thuật, tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thể hiện rõ trách nhiệm quốc tế, củng cố niềm tin của bạn bè và nhân dân các nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm là, tăng cường phối hợp liên ngành, kết hợp chặt chẽ đối ngoại quốc phòng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân. Trước hết, tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan liên quan trong trao đổi thông tin, tham mưu chiến lược và xử lý các vấn đề quốc phòng - an ninh có yếu tố nước ngoài. Thiết lập quy trình phối hợp thống nhất, bảo đảm đồng bộ quan điểm, thông điệp và lợi ích quốc gia, dân tộc. Tăng cường cơ chế họp liên ngành định kỳ và đột xuất khi xuất hiện vấn đề phức tạp, nhạy cảm; chủ động xây dựng phương án truyền thông, định hướng dư luận trong và ngoài nước, không để bị động, bất ngờ.
Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh giao lưu quốc phòng nhân dân, kết nghĩa đơn vị, tăng cường hợp tác trong cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Thông qua các hoạt động thực chất, thiết thực, từng bước củng cố lòng tin, mở rộng hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội và nhân dân các nước, nhất là các nước láng giềng. Kết hợp chặt chẽ đối ngoại quốc phòng với công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về chính sách quốc phòng của Việt Nam. Sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các trụ cột đối ngoại sẽ tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại tá, TS. BÙI THANH CAO, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự ______________________
1 - Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã triển khai trên 1.300 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình tại các phái bộ của Liên hợp quốc.
2 - Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực, hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Đối ngoại quốc phòng,trụ cột,đối ngoại Đảng,ngoại giao Nhà nước,đối ngoại Nhân dân,củng cố lòng tin
Một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức thực hiện chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự thời kỳ mới 26/03/2026
Công tác vận tải quân sự và những vấn đề đặt ra trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 20/03/2026
Một số vấn đề về chuẩn bị và thực hành tác chiến không gian mạng hiện nay 28/02/2026
Bàn về xây dựng, phát triển lực lượng pháo binh - tên lửa đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới 25/02/2026
Về phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 23/02/2026
Xây dựng, củng cố lòng tin của Nhân dân - vấn đề cốt lõi trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới 30/01/2026
Bàn về giải pháp phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của Bộ đội Thông tin liên lạc trong tình hình mới 15/01/2026
Giải pháp bảo đảm hậu cần cho hoạt động ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn 12/01/2026
Bàn về bảo đảm thông tin liên lạc nghi binh, tạo thế, cơ động triển khai lực lượng đánh địch đổ bộ đường không trong tác chiến phòng thủ chiến lược 25/12/2025
Giải pháp nâng cao hiệu quả động viên chính trị - tinh thần trong động viên quốc phòng thời kỳ mới 22/12/2025
Một số vấn đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức thực hiện chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự thời kỳ mới
Công tác vận tải quân sự và những vấn đề đặt ra trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Bàn về giải pháp nâng cao chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng thời kỳ mới