Những chủ trương công tác lớn Chuyên luận chỉ đạo

QPTD -Thứ Năm, 30/04/2026, 14:28 (GMT+7)
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh vì sự phát triển của đất nước

Trong tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam luôn khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh trở thành nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của Ðảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thăm, động viên người lao động tại Trung tâm Điện lực Quảng Trạch, tỉnh Quảng Trị. (Nguồn: baotintuc.vn)

I. Giai cấp công nhân - lực lượng tiên phong, nòng cốt trong phát triển đất nước

“Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”1.

Sau 40 năm đổi mới, cùng với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân đã làm cho quy mô giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng mở rộng. Đặc biệt, với sự gia tăng của các hình thức việc làm trong nền kinh tế số, lực lượng lao động trên các nền tảng công nghệ, lao động tự do, lao động phi chính thức,… xuất hiện ngày càng nhiều. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2025, lao động khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng tăng cả về quy mô lẫn tỷ trọng, với khoảng 17,5 triệu trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng; 21,4 triệu trong khu vực dịch vụ2.

Cơ cấu chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ lệ công nhân trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giảm tỷ lệ ở doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân cũng có sự thay đổi rõ rệt, gắn với các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu, có mặt nhiều hơn trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, điện tử, logistics và các lĩnh vực dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Tính chất lao động cũng có sự thay đổi lớn, nhiều vị trí việc làm mới xuất hiện gắn với vận hành hệ thống sản xuất tự động, sử dụng dữ liệu và công nghệ số.

Chất lượng giai cấp công nhân được nâng lên, công nhân, lao động nước ta có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp ngày càng cao. Theo khảo sát, “đến năm 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 27,2%, trong đó trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 17%, chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao, như: dầu khí, điện lực, điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ hóa học, sinh học”3. Ngày càng có nhiều công nhân tay nghề cao, thích ứng nhanh với môi trường làm việc mới và tham gia vào quá trình đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, một lớp công nhân trẻ, làm chủ khoa học - công nghệ đang hình thành, thể hiện sức bật mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân từng bước được cải thiện. Việc làm cơ bản ổn định, thu nhập và tiền lương được nâng lên, môi trường làm việc được cải thiện; quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, số vụ tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể giảm mạnh. Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng, phát huy; chính sách an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng phát triển.

Qua nghiên cứu cho thấy, “đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 15% dân số, 29% lực lượng lao động xã hội, tạo ra gần 70% giá trị tổng sản phẩm xã hội”4, ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, chất lượng giai cấp công nhân nước ta chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển của nền sản xuất hiện đại; khoảng cách về kỹ năng, nhất là kỹ năng số giữa các nhóm ngành, vùng miền còn lớn; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động chưa đồng đều; đời sống của một bộ phận công nhân còn nhiều khó khăn. Sự phân hóa về trình độ, thu nhập và điều kiện làm việc trong nội bộ giai cấp công nhân đã dẫn đến tình trạng dịch chuyển từ khu vực chính thức sang khu vực phi chính thức, làm suy giảm tính bền vững của giai cấp công nhân; một số lượng không nhỏ công nhân đang đứng ngoài phạm vi bảo vệ của tổ chức công đoàn và hệ thống an sinh xã hội. Những vấn đề trên cần được nhận diện đầy đủ để có giải pháp khắc phục đồng bộ, quyết liệt, kịp thời và hiệu quả; nếu không sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng giai cấp công nhân - nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước.

II. Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh - nhiệm vụ quan trọng trong kỷ nguyên phát triển mới

Để “thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”5, Đảng ta đã xác định rõ các trụ cột chiến lược để xây dựng, phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; trong đó, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Đây là những định hướng lớn của đất nước, trực tiếp tạo môi trường, điều kiện và động lực để xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã mở ra cho giai cấp công nhân Việt Nam cơ hội việc làm, không gian phát triển trong chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và kỹ năng xanh. Nhưng đồng thời cũng đặt ra áp lực cạnh tranh gay gắt, nguy cơ mất việc làm trong các ngành thâm dụng lao động, cùng với yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn lao động và an sinh xã hội. Cùng với đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đã và đang đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi từ lao động giản đơn, sang lao động tri thức, số hóa và sáng tạo trở thành đòi hỏi tất yếu. Nếu giai cấp công nhân chậm thích ứng, sẽ có nguy cơ tụt hậu và đánh mất vai trò của mình.

Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, “thực sự là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam”6. Để đạt được yêu cầu đó, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt một số giải pháp trọng tâm sau.

Một là, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật, xây dựng giai cấp công nhân “có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc”7. Trọng tâm là quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 10/01/2026 của Ban Bí thư (khóa XIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới. Tuyên truyền, giáo dục cho công nhân nhận thức đúng đắn các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh và xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Kết luận số 79-KL/TW, ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về truyền thống lịch sử vẻ vang; vị trí, vai trò, sứ mệnh, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Việt Nam; khơi dậy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, bản lĩnh chính trị cho công nhân, người lao động. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền để người sử dụng lao động và người lao động nhận diện các hành vi lợi dụng việc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ra đời và hoạt động để xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh, phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch về giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn. Chú trọng ứng dụng công nghệ số; tăng cường công tác phối hợp; xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền; hoàn thiện cơ chế, chính sách, đảm bảo nguồn lực phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân.

Hai là, đẩy mạnh phong trào thi đua, tạo môi trường thực tiễn để giai cấp công nhân đóng góp chủ động, hiệu quả cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Các cấp công đoàn chủ động xây dựng và triển khai thực hiện Quy chế phối hợp với người sử dụng lao động nhằm thúc đẩy các phong trào thi đua; cần có cơ chế động viên, khích lệ, tạo môi trường, điều kiện để công nhân tham gia hưởng ứng các phong trào hành động cách mạng, thi đua yêu nước, từ đó phát huy sáng kiến, sáng tạo, nâng cao năng suất lao động. Đổi mới việc phát động và triển khai phong trào thi đua theo hướng thiết thực, hiệu quả, sát hợp từng đối tượng, từng lĩnh vực. Gắn thi đua với khen thưởng; nghiên cứu đề xuất chính sách quy định thưởng đối với các sáng kiến theo tỷ lệ của giá trị làm lợi để tạo động lực cho công nhân phát huy sáng tạo.

Công đoàn các cấp tiếp tục phát động và triển khai hiệu quả phong trào “Lao động giỏi - năng suất cao - thu nhập tốt”, phối hợp chặt chẽ với người sử dụng lao động thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ về nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu hai con số theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Công đoàn các cấp triển khai nhiều hoạt động thiết thực, chăm lo cho đời sống người lao động. (Nguồn: baochinhphu.vn)

Ba là, đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn, thực hiện tốt chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, người sử dụng lao động triển khai thực hiện tốt các nội dung được quy định tại Luật Công đoàn8 để triển khai đầy đủ các quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn; tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động và tổ chức công đoàn.

Tăng cường nguồn lực, mở rộng không gian thực hiện chức năng trung tâm của tổ chức công đoàn là đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động. Đẩy mạnh thương lượng tập thể, ký kết và giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể; tham gia đối thoại tại nơi làm việc, giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật; chủ động phòng ngừa tranh chấp, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ. Triển khai các chương trình chăm lo phúc lợi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, người lao động; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách của công nhân, người lao động theo quy định của pháp luật.

Đổi mới phương thức vận động, tập hợp công nhân, người lao động phù hợp với đặc thù ngành nghề và xu hướng dịch chuyển lao động; chú trọng phát triển tổ chức công đoàn vững mạnh theo hướng thực chất, bền vững, nhất là ở khu vực ngoài nhà nước, doanh nghiệp có đông lao động, khu vực chưa có quan hệ lao động linh hoạt; bảo đảm công nhân, người lao động thấy rõ lợi ích khi tham gia tổ chức công đoàn.

Phát huy vai trò chủ trì giám sát, phản biện xã hội của công đoàn theo quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích của công nhân, người lao động; góp phần xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, thực sự là chỗ dựa tin cậy của công nhân, người lao động. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong khảo sát, thu thập ý kiến, phân tích dữ liệu để kịp thời điều chỉnh hoạt động công đoàn sát thực tiễn, lấy mức độ hài lòng, chỉ số hạnh phúc của đoàn viên, công nhân, người lao động làm thước đo.

Công đoàn các cấp chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan và người sử dụng lao động, tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuyển đổi nghề cho công nhân, người lao động. Đẩy mạnh triển khai xây dựng xã hội học tập, phong trào học tập suốt đời; tạo môi trường, điều kiện để công nhân nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, tác phong làm việc, khả năng thích ứng, làm chủ tri thức, công nghệ, hội nhập quốc tế và phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới, trở thành “Công dân số”.

Bốn là, thực hiện chuyển đổi số toàn diện, tạo hệ sinh thái và có cơ chế tương tác theo thời gian thực giữa đoàn viên, người lao động và tổ chức công đoàn. Xây dựng hệ sinh thái công đoàn số đồng bộ, liên thông từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đến công đoàn cơ sở, trên nền tảng cơ sở dữ liệu đoàn viên, người lao động thống nhất và các dịch vụ số tích hợp, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành và chăm lo đoàn viên. Thiết lập cơ chế tương tác hai chiều theo thời gian thực giữa tổ chức công đoàn với đoàn viên, người lao động thông qua các nền tảng số chính thống; kịp thời tiếp nhận, xử lý kiến nghị, tư vấn pháp luật, hỗ trợ thiết thực, củng cố niềm tin và sự gắn bó của đoàn viên, người lao động. Đẩy mạnh số hóa toàn diện hoạt động công đoàn, từ quản lý đoàn viên, tài chính đến tổ chức hội nghị, đối thoại, thương lượng tập thể; ứng dụng chữ ký số, hồ sơ điện tử, giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch. Phát triển hệ thống dịch vụ, phúc lợi số, lấy đoàn viên làm trung tâm, đáp ứng nhu cầu thiết thực về pháp lý, việc làm, kỹ năng, chăm sóc sức khỏe. Nâng cao năng lực số, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường hợp tác công nghệ, huy động mọi nguồn lực xã hội để triển khai chuyển đổi số đồng bộ, hiệu quả, xây dựng tổ chức công đoàn chuyên nghiệp, hiện đại trong giai đoạn mới.

Năm là, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện, thực chất kết quả 20 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X). Trên cơ sở đó, đề ra các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo về xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Cùng với đó, nghiên cứu, xây dựng và ban hành chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó, xác định rõ vị trí, vai trò và định hướng phát triển giai cấp công nhân; cụ thể hóa mục tiêu, lộ trình, tiêu chí phát triển gắn với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo. Ưu tiên phát triển lực lượng công nhân trong các ngành, lĩnh vực then chốt, nhất là công nghệ cao, công nghiệp nền tảng và các ngành có giá trị gia tăng lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026) là dịp để ôn lại, khẳng định ý nghĩa lịch sử và giá trị bền vững của Ngày Quốc tế Lao động; tôn vinh vai trò, vị thế và những đóng góp quan trọng của giai cấp công nhân, người lao động Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu mới, trách nhiệm ngày càng cao của Ðảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, mỗi công nhân và toàn xã hội; trong đó, tổ chức công đoàn có vai trò, trách nhiệm to lớn trong xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong xây dựng nền công nghiệp hiện đại, làm nòng cốt trong đội ngũ lao động có kỹ năng, tri thức và tác phong mang tầm quốc tế, đóng góp vào sự phát triển hùng cường, thịnh vượng của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

TS. NGUYỄN ANH TUẤN, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam


1 - ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 67, Nxb CTQGST, H. 2018, tr. 72.

2 - https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/

3, 4 - https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1005802/xay-dung-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-hien-dai%2C-lon-manh.aspx.

5 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb CTQGST, H. 2026, tr. 84.

6, 7 - Sđd, tr. 123.

8 - Luật Công đoàn năm 2024 (Luật số 50/2024/QH15) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công đoàn (Luật số 97/2025/QH15), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Hội nghị lần này sẽ xem xét, thảo luận và quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với nhiệm vụ triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp liên quan đến chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; liên quan đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; liên quan đến sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước...