QPTD -Thứ Năm, 19/05/2016, 11:39 (GMT+7)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng theo tinh thần Đại hội XII của Đảng

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng là một trong những đột phá về tư duy và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Thực chất đó là quá trình đổi mới nhằm nhận thức sâu hơn, đúng hơn về xu thế thời đại và cục diện chính trị - an ninh khu vực, thế giới để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì thế, hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của quốc phòng Việt Nam. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: phải “tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”; trong đó, cần “chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng” với mức độ hợp tác cao hơn, thực chất hơn, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm cơ bản, thể hiện tư tưởng nhất quán của Đảng ta về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra sâu, rộng.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dự Đối thoại Chiến lược Quốc phòng cấp thứ trưởng lần thứ 2 giữa Việt Nam và Liên bang Nga. (Ảnh: TTXVN)

Nghiên cứu kỹ quan điểm này cho thấy, Đảng ta đã kế thừa, phát triển nội dung, phương châm của hợp tác quốc tế về quốc phòng trong 30 năm đổi mới vừa qua để đề ra phương hướng tới cho phù hợp. Theo đó, cùng với khẳng định những nội dung lớn về đối ngoại quốc phòng như đã nêu trong các kỳ đại hội trước, tại Đại hội này, Đảng ta còn đề cập sâu và rõ hơn về mục tiêu, yêu cầu cần đạt được đối với công tác quan trọng này. Trong đó, mục tiêu của hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng phải nhằm giữ vững môi trường hòa bình thuận lợi cho phát triển; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;… nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội, đất nước. Yêu cầu đặt ra đối với công tác này phải chủ động, kiên quyết về chiến lược nhưng hết sức mềm dẻo, linh hoạt về sách lược; phải phát huy sức mạnh tổng hợp cả nội lực, ngoại lực để vừa hợp tác, vừa đấu tranh; chủ động dự báo, tham mưu và xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để đất nước rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Đó là những nội dung cốt lõi của quan điểm mà chúng ta cần thấu suốt và quán triệt thật sâu sắc về nhận thức, tư tưởng; trên cơ sở đó, xây dựng bản lĩnh chính trị, rèn luyện tư duy chiến lược nhanh, nhạy, sắc bén nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay và thời gian tới, cùng với những thành tựu to lớn đạt được trong hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, đất nước ta đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, nhất là những diễn biến phức tạp, khó lường trên Biển Đông, vấn đề hội nhập Cộng đồng ASEAN và sự cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn ở khu vực. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; trên cơ sở đó, triển khai toàn diện các mặt công tác, với các nhiệm vụ cơ bản sau:

Trước hết, toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương và nhiệm vụ đối ngoại được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X, trực tiếp là Nghị quyết 806-NQ/QUTƯ của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng theo phương châm: “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, nâng cao năng lực đánh giá, dự báo tình hình, vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại của Đảng để xử lý đúng đắn những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong quan hệ quốc tế về lĩnh vực quốc phòng.

Công tác đối ngoại về quốc phòng phải được triển khai theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng; xử lý tốt mối quan hệ với các nước, bảo đảm thận trọng, chặt chẽ và đặt trong tổng thể của chiến lược chung; triển khai các mặt hợp tác về quốc phòng song phương, đa phương đạt hiệu quả thiết thực, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đó, phải tập trung phát huy được nội lực, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ được sức mạnh của quốc tế và thời đại, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của lực lượng và thế trận đối ngoại - quốc phòng - an ninh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược đối ngoại về quốc phòng. Để làm được điều đó, cần tập trung kiện toàn hệ thống cơ quan nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược đối ngoại về quốc phòng theo hướng: “tinh, gọn, mạnh, hợp lý, đồng bộ”; chú trọng bổ sung, hoàn chỉnh chức trách, nhiệm vụ của từng cơ quan; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong đó, việc phát triển nguồn nhân lực cho công tác này cần coi trọng từ khâu phát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng, bảo đảm cả về phẩm chất chính trị, năng lực công tác, trình độ chuyên môn và có tính kế tiếp, kế thừa vững chắc.

Trong bối cảnh hiện nay, công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng cần thường xuyên bám sát thực tiễn, nhất là các động thái mới ở khu vực và thế giới để rút ra những vấn đề có tính bản chất, kịp thời tham mưu giúp Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong hoạch định kế hoạch, chiến lược đối ngoại phù hợp. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các bộ, ngành, địa phương và lực lượng có liên quan trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong phân tích, đánh giá tình hình, đưa công tác này đi vào chiều sâu, hiệu quả.

Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương theo hướng: chủ động, thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả. Trong quan hệ quốc phòng song phương, cần đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, ưu tiên các nước láng giềng có chung biên giới, nhằm củng cố và nâng cao sự tin cậy lẫn nhau, tăng mặt đồng thuận, giảm điểm bất đồng. Chú trọng quan hệ với các nước trong khu vực, các nước lớn, các nước có nền công nghiệp phát triển, bảo đảm đưa các quan hệ này đi vào chiều sâu, hiệu quả với những bước đi phù hợp, tránh bị lợi dụng, gây bất lợi cho quốc phòng, an ninh; đồng thời, củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, tạo sự ủng hộ mạnh mẽ về mọi mặt. Coi trọng thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện, đi vào chiều sâu, ổn định, thực chất và tăng cường sự tin cậy; trọng tâm là cụ thể hóa và xây dựng các chương trình hành động, cơ chế triển khai các khuôn khổ quan hệ, hợp tác; thường xuyên rà soát, tổng kết đánh giá việc triển khai thỏa thuận hợp tác đã ký với các đối tác thông qua cơ chế hợp tác song phương cùng có lợi.

Cùng với đó, cần tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng đa phương, nhất là trong khuôn khổ hợp tác ASEAN; trong đó, tích cực tham gia và đề xuất sáng kiến, bày tỏ quan điểm tại các diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới, nhằm nâng cao vị thế và tạo sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế trong đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng theo phương thức: vừa hợp tác, vừa đấu tranh, lấy hợp tác là chính, trên cơ sở kiên định chủ quyền lãnh thổ, độc lập tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nhất là đẩy mạnh các hoạt động thương mại trong một số lĩnh vực quan trọng, thiết yếu, tạo thành một thể thống nhất trong chiến lược đối ngoại của quốc gia, nhằm không ngừng tăng cường tiềm lực quốc phòng, cung cấp cho Quân đội trang, thiết bị, vũ khí phù hợp với điều kiện và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Duy trì quan hệ thương mại với các bạn hàng truyền thống, các đối tác có tiềm năng, trên cơ sở tuân thủ những quy định của luật pháp quốc tế. Quá trình thực hiện cần theo một kế hoạch thống nhất trong khuôn khổ của hội nhập quốc tế về quốc phòng. Trong đó, hợp tác về công nghiệp quốc phòng phải hướng tới các nước lớn, những nước có trình độ công nghiệp phát triển hiện đại, trọng tâm là thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, tiếp thu, áp dụng các quy trình quản lý, sản xuất tiên tiến theo cơ chế thị trường. Thông qua hợp tác, vừa phải tranh thủ được các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến, vừa phải nâng cao năng lực tự chủ để từng bước tự bảo đảm vũ khí, khí tài ngày càng hiện đại cho Quân đội.

Thứ tư, chú trọng mở rộng hơn nữa cơ chế đối thoại quốc phòng cấp cao với các nước đối tác để tăng cường hiểu biết, xây dựng lòng tin trong hợp tác quốc tế về quốc phòng. Hiện tại, chúng ta đã thực hiện đối thoại quốc phòng với gần 20 nước trên thế giới, trong đó có nhiều nước lớn, như: Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ, Niu Di-lân, v.v. Thời gian tới, Bộ Quốc phòng tiếp tục nghiên cứu mở rộng cơ chế đối thoại quốc phòng cấp cao với các nước đối tác, nhất là cơ chế đối thoại chiến lược, đối thoại chính sách quốc phòng với các đối tác chiến lược, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, v.v. Thông qua các cơ chế đối thoại, tham vấn quốc phòng, làm cho các nước hiểu rõ những vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam cùng chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các bất đồng, tranh chấp về chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế: Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Từ đó, xây dựng lòng tin, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, vì hòa bình, ổn định, phát triển, thịnh vượng của mỗi nước, khu vực và thế giới.

Thứ năm, tiếp tục triển khai có hiệu quả “Đề án Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giai đoạn 2014 - 2020 và những năm tiếp theo”. Theo đó, Việt Nam tiếp tục cử lực lượng Quân đội tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng và Cộng hòa Trung Phi; đăng ký tham gia Hệ thống các dàn xếp thường trực của Liên hợp quốc; tích cực hoàn thiện và đưa Bệnh viện dã chiến cấp II, Đội Công binh tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình ở các phái bộ thích hợp. Ngoài ra, chúng ta cần chủ động tham gia Diễn tập Nhóm Chuyên gia Hành động mìn nhân đạo kết hợp gìn giữ hòa bình trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) trong năm 2016; tham dự các khóa tập huấn, huấn luyện quốc tế, như: quan sát viên quân sự, sĩ quan tham mưu, hậu cần, quân - dân sự theo chương trình hợp tác song phương với các đối tác, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đây là bước phát triển mới của hợp tác quốc phòng đa phương, thể hiện tinh thần tích cực, chủ động hội nhập quốc tế về quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Trên nền tảng đó, năm 2016 và những năm tiếp theo, cần đẩy mạnh việc phối hợp, hợp tác giữa Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam với các trung tâm gìn giữ hòa bình của các nước ASEAN và các quốc gia khác.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, làm cho cộng đồng quốc tế, nhất là các nước đối tác, đối thoại và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhận thức đúng chủ trương hội nhập quốc tế về quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta; hiểu rõ chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình, tự vệ, hợp tác cùng phát triển. Để công tác này đạt hiệu quả thiết thực, thời gian tới, phải tích cực đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp thông tin, tuyên truyền cho phù hợp với từng đối tác; tăng cường về bề rộng nhưng phải chú trọng về chiều sâu. Nội dung thông tin, tuyên truyền phải bảo đảm toàn diện trên các mặt; chú trọng làm rõ, có sức thuyết phục những thành tựu của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội; về xóa đói giảm nghèo và về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo ở các vùng, miền. Công tác thông tin đối ngoại phải làm cho thế giới biết đến Việt Nam không chỉ là một đất nước yêu chuộng hòa bình, đang vươn lên sau chiến tranh, mà còn là quốc gia đã, đang tham gia một cách có trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Thông qua đó, thông tin, tuyền truyền cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ mục đích, nhiệm vụ và vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và trong tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Thứ bảy, đề cao cảnh giác trước quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội về chính trị, hòng chống phá cách mạng nước ta trên các lĩnh vực; trong đó có công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Với âm mưu, thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm độc, chúng đã, đang ra sức lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của nước ta để thâm nhập, can thiệp nhằm gây mất ổn định an ninh, chính trị, kinh tế và trật tự, an toàn xã hội. Các cơ quan, đơn vị cần đề cao cảnh giác, sẵn sàng làm thất bại chiến lược "Diễn biến hoà bình", các hoạt động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng; tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị toàn quân về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; từ đó, xây dựng bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thời gian tới, Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan, đơn vị liên quan thường xuyên trao đổi, đánh giá tình hình, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, nhằm thực hiện mục tiêu của quốc phòng, an ninh là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trong khu vực và trên toàn thế giới.

Thượng tướng NGUYỄN CHÍ VỊNH, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Hội nghị lần này sẽ xem xét, thảo luận và quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với nhiệm vụ triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp liên quan đến chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; liên quan đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; liên quan đến sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước...