Thứ Năm, 22/10/2026, 04:47 (GMT+7)
Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm Thực tiễn và kinh nghiệm
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những “vùng đất chết” - vùng đất còn chất độc hóa học do chiến tranh để lại vẫn tiềm ẩn nguy cơ đối với môi trường, sức khỏe con người và phát triển kinh tế - xã hội. Để góp phần hồi sinh những vùng đất này, hơn 30 năm qua, Viện Hóa học Môi trường quân sự, Binh chủng Hóa học đã kiên trì điều tra, đánh giá, nghiên cứu, xử lý chất độc hóa học, góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi môi trường và ổn định đời sống Nhân dân. Đây là nhiệm vụ rất thiêng liêng, cao cả.
Điều tra, nhận diện những “vùng đất chết”
Một trong những khó khăn của công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh là xác định chính xác vị trí, mức độ và phạm vi ô nhiễm, bởi các chất độc tồn lưu phân bố không đồng đều trong đất, trầm tích và các thành phần môi trường khác. Vì vậy, điều tra, lấy mẫu, phân tích và khoanh vùng khu vực ô nhiễm chất độc hóa học là những công đoạn quan trọng, làm cơ sở để lựa chọn giải pháp, công nghệ xử lý phù hợp.
Điển hình, trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc hóa học tại 07 sân bay: Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát, Nha Trang, Tuy Hòa và Phan Rang, lực lượng chuyên môn đã lấy và phân tích 1.155 mẫu đất, bùn, nước; khảo sát địa chất, khoan 17 mũi với độ sâu 30m và xây dựng bản đồ số khu vực khảo sát. Kết quả cho thấy, cả 07 sân bay đều phát hiện tồn lưu chất độc da cam/dioxin với mức độ khác nhau; trong đó, sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát có mức độ tồn lưu vượt ngưỡng quy định đối với điểm nóng ô nhiễm dioxin; sân bay Tân Sơn Nhất có 02 điểm vượt ngưỡng.
Dữ liệu mà Viện Hóa học Môi trường quân sự thu thập được góp phần nhận diện các khu vực có nguy cơ, tạo cơ sở khoa học để xác định trọng điểm, quy mô và thứ tự ưu tiên xử lý. Đối với chất độc CS, công tác điều tra, khảo sát được Viện triển khai trên nhiều địa hình, từ kho, căn cứ quân sự cũ đến rừng, nương rẫy và những nơi từng chôn lấp chất độc hoặc cất giữ phương tiện chứa hóa chất. Sự đa dạng về địa hình, không gian tồn lưu và mức độ ô nhiễm đòi hỏi công tác khảo sát phải được tiến hành có hệ thống, trên diện rộng và kết hợp nhiều phương pháp. Tại khu vực Tây Nguyên, Viện đã xác định các địa điểm tồn lưu chất độc CS, đánh giá mức độ ảnh hưởng, khoanh vùng nguy cơ và tổ chức thu gom, góp phần làm rõ phạm vi tồn lưu và phục vụ quản lý, xử lý an toàn.
Như vậy, điều tra, đánh giá phải đi trước một bước, kết quả khảo sát không chỉ dừng ở việc nhận diện hiện trạng mà phải được chuyển hóa thành dữ liệu phục vụ khoanh vùng, lựa chọn công nghệ và tổ chức lực lượng xử lý. Đây là yêu cầu chuyên môn, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn, tránh xử lý dàn trải hoặc làm phát sinh nguy cơ ô nhiễm thứ cấp.
Kiên trì nghiên cứu, làm chủ công nghệ
Nếu điều tra, đánh giá giữ vai trò then chốt trong nhận diện và xác định mức độ ô nhiễm của những “vùng đất chết”, thì nghiên cứu, làm chủ công nghệ là khâu quan trọng để xử lý an toàn, hiệu quả. Ngay từ những dự án đầu tiên, Viện đã nghiên cứu các giải pháp phù hợp với đặc tính của từng loại chất ô nhiễm và điều kiện Việt Nam. Đối với chất độc da cam/dioxin, quá trình nghiên cứu được triển khai từ khảo sát, đánh giá đặc điểm ô nhiễm đến thử nghiệm các giải pháp, như: giải hấp nhiệt, tiêu hủy nhiệt, vi bọc và kết hợp các phương pháp xử lý. Thực tế cho thấy, không có một công nghệ duy nhất có thể áp dụng cho mọi địa điểm do sự khác biệt về địa hình, địa chất, mức độ ô nhiễm và điều kiện thi công. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ, mà quan trọng hơn là phải từng bước làm chủ, hoàn thiện và tối ưu hóa công nghệ theo từng điều kiện cụ thể.
Những năm gần đây, các nghiên cứu của Viện tập trung theo hướng làm chủ công nghệ xử lý chuyên sâu. Tiêu biểu là Đề tài “Nghiên cứu làm chủ công nghệ xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh và các hợp chất hữu cơ khó phân hủy bằng giải pháp oxy hóa có sử dụng xúc tác hóa học, nhiệt độ và áp suất cao”, được thực hiện từ tháng 8/2020 đến tháng 3/2025. Đề tài đã nghiên cứu, thiết kế Hệ thống GRA-500 xử lý đất, trầm tích nhiễm dioxin bằng công nghệ gradient nhiệt có sử dụng phụ gia, xúc tác, đạt công suất 500 kg/giờ. Từ ngày 24/8/2024 đến 18/01/2025, hệ thống đã thử nghiệm xử lý 59 mẻ, với tổng khối lượng khoảng 1.000 tấn đất nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa. Đồng thời, đề tài nghiên cứu hệ thống xử lý chất thải chứa các hợp chất hữu cơ khó phân hủy bằng công nghệ nhiệt kết hợp áp suất, quy mô thử nghiệm 05 kg/giờ; làm chủ công nghệ xử lý chất độc CS và sản phẩm thủy phân CS bằng công nghệ đề clo hóa - oxy hóa nhiệt có sử dụng phụ gia, xúc tác, công suất từ 70 đến 100 kg/giờ.
Lấy thực tiễn làm thước đo hiệu quả
Giá trị của nghiên cứu được khẳng định qua khả năng ứng dụng trong thực tế. Tại khu vực Tây Nguyên, các dự án do Viện triển khai đã phát hiện, thu gom và xử lý 48.084,8 kg chất độc CS và 24.252 kg đạn dược chứa chất độc CS; đồng thời, xây dựng bản đồ dữ liệu số hóa các điểm tồn lưu để phục vụ công tác quản lý. Tại Quảng Trị và thành phố Huế, công tác điều tra, thu gom, xử lý được triển khai trên nhiều địa bàn, qua đó phát hiện và xử lý 19.439,2 kg chất độc CS và 1.000 kg vật nổ chứa chất độc CS.
Đối với chất độc dioxin, trong dự án xử lý đất nhiễm dioxin tại sân bay A So, thành phố Huế, giai đoạn 2020 - 2023, Viện đã xử lý 38.718m³ đất và trầm tích nhiễm bằng giải pháp chôn lấp cô lập kết hợp công nghệ sinh học, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành. Kết quả này góp phần kiểm soát nguy cơ phát tán chất độc, bảo đảm môi trường, sức khỏe Nhân dân và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tiễn cho thấy, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh phải được tiến hành theo quy trình liên hoàn: điều tra - đánh giá - khoanh vùng - lựa chọn giải pháp - thu gom, vận chuyển - xử lý - kiểm tra, giám sát - phục hồi và quản lý sau xử lý. Đối tượng xử lý gồm các chất độc hóa học tồn lưu lâu năm, đạn dược hoặc vật chứa chất độc, nên việc thu gom, vận chuyển, xử lý không đúng quy trình sẽ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn đối với cán bộ, chiến sĩ, người lao động và cộng đồng dân cư. Vì vậy, kết quả xử lý không chỉ được đánh giá bằng khối lượng chất ô nhiễm đã thu gom mà phải xem xét tổng thể trên các phương diện an toàn, mức độ kiểm soát ô nhiễm, chất lượng môi trường sau xử lý, khả năng phục hồi và tác động đối với đời sống xã hội.
Chủ động phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp
Khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh là nhiệm vụ của nhiều cấp, ngành, lực lượng, liên quan đến khoa học, môi trường, quốc phòng, y tế, quản lý đất đai và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, một cơ quan, đơn vị khó có thể tự mình giải quyết toàn bộ các khâu, các bước. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh lực lượng chuyên trách còn có sự tham gia của các quân khu, cơ quan quân sự địa phương, chính quyền và cơ quan chuyên môn về môi trường. Chẳng hạn, dự án tại sân bay A So có sự tham gia của Ủy ban nhân dân thành phố Huế, Bộ Tham mưu Quân khu 4, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Huế, cơ quan quản lý môi trường và cấp ủy, chính quyền địa phương. Sự phối hợp đó giúp huy động các nguồn lực, phát huy năng lực chuyên môn, đồng thời gắn xử lý chất độc với bảo đảm đời sống Nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao chất lượng công tác phối hợp trong quá trình thực hiện, trước hết phải xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng lực lượng và bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo. Trong đó, cơ quan nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học, đề xuất giải pháp công nghệ và hướng dẫn chuyên môn; các lực lượng thực hiện nhiệm vụ tổ chức khảo sát, thu gom, vận chuyển và xử lý theo quy trình kỹ thuật; chính quyền địa phương quản lý địa bàn, cung cấp thông tin, tuyên truyền, vận động Nhân dân và bảo đảm các điều kiện cần thiết. Việc phân công rõ trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng đã góp phần bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng xử lý, từng bước phục hồi môi trường và đưa các khu vực sau xử lý vào phục vụ đời sống, sản xuất của Nhân dân.
Tiếp tục giải mã, hồi sinh những “vùng đất chết”
Giải quyết hậu quả chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh là nhiệm vụ lâu dài, phức tạp, đòi hỏi sự kiên trì trong nghiên cứu và cách tiếp cận đồng bộ. Thời gian tới, cùng với cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về các khu vực có nguy cơ ô nhiễm, công tác điều tra, đánh giá cần xác định rõ phạm vi ảnh hưởng, mức độ nguy cơ và địa bàn ưu tiên xử lý. Đây là cơ sở để lựa chọn giải pháp phù hợp, tổ chức lực lượng và quản lý các khu vực sau xử lý, nhất là những nơi có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trường.
Trên cơ sở kết quả khảo sát thực địa, Viện Hóa học Môi trường quân sự tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ phù hợp với đặc điểm từng loại chất ô nhiễm và điều kiện địa chất, môi trường tại mỗi khu vực. Chú trọng thử nghiệm, kiểm chứng tại hiện trường, đánh giá hiệu quả sau xử lý và chuẩn hóa quy trình, bảo đảm tính khả thi, an toàn, hạn chế phát sinh chất thải thứ cấp. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát các khâu thu gom, vận chuyển, xử lý và chỉ bàn giao khu vực khi kết quả đáp ứng yêu cầu về môi trường, an toàn.
Cùng với phát triển công nghệ, cần tăng cường phối hợp giữa các lực lượng trong điều tra, trao đổi thông tin, tổ chức xử lý và quản lý sau xử lý; đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân nhận biết nguy cơ, không tự ý tiếp xúc, đào bới hoặc di chuyển đất, vật thể nghi nhiễm. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có chuyên môn sâu, kinh nghiệm thực địa, kết hợp trao đổi kinh nghiệm và hợp tác khoa học sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, hoàn thiện quy trình và làm chủ công nghệ.
Với phương châm “chủ động nhận diện, kiên trì nghiên cứu, làm chủ công nghệ, xử lý an toàn, phục hồi môi trường”, hành trình giải mã những “vùng đất chết” vẫn đang được nối dài bằng trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của những người lính Hóa học. Từ những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến các công trình xử lý trên thực địa, mỗi bước tiến đều góp phần làm sáng tỏ những vấn đề khoa học đặt ra liên quan đến di chứng chiến tranh, từng bước khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường và mở rộng khả năng sử dụng đất an toàn.
Đó không chỉ là nỗ lực làm chủ khoa học, công nghệ mà còn là hành trình mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần bảo vệ sức khỏe Nhân dân, trả lại màu xanh cho những vùng đất từng bị tổn thương, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trung tá, ThS. PHẠM BÁ BÌNH, Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Viện Hóa học Môi trường quân sự,công nghệ xử lý,“vùng đất chết”
Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng đẩy mạnh công tác đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa 19/10/2026
Thành phố Cần Thơ tập trung xây dựng lực lượng vũ trang “tinh, gọn, mạnh” 19/10/2026
Sư đoàn Không quân 372 nâng cao chất lượng huấn luyện và bảo đảm an toàn bay 15/10/2026
Cục Công trình quốc phòng đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ 05/10/2026
Lữ đoàn 434 đột phá xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và bảo đảm an toàn 24/09/2026
Điểm sáng trong công tác hậu cần - kỹ thuật của Quân khu 7 24/09/2026
Xây dựng Lữ đoàn Đặc công biệt động 1 đặc biệt tinh nhuệ, hiện đại 17/09/2026
Lữ đoàn Phòng không 673 tập trung nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo vệ vững chắc vùng trời Tổ quốc 17/09/2026
Giữ vững y đức, nâng cao y thuật của đội ngũ thầy thuốc ở Bệnh viện Quân y 7 10/09/2026
Nhà máy Z121 chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh 07/09/2026
Lữ đoàn 434 đột phá xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và bảo đảm an toàn
Điểm sáng trong công tác hậu cần - kỹ thuật của Quân khu 7
Cục Công trình quốc phòng đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ
Sư đoàn Không quân 372 nâng cao chất lượng huấn luyện và bảo đảm an toàn bay
Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng đẩy mạnh công tác đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Thành phố Cần Thơ tập trung xây dựng lực lượng vũ trang “tinh, gọn, mạnh”
Giải mã những “vùng đất chết”