Sự kiện lịch sử Những ngày kỷ niệm lớn

QPTD -Thứ Sáu, 15/03/2013, 10:19 (GMT+7)
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Chu Huy Mân
Đại tướng Chu Huy Mân chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện
Chủ tịch Võ Chí Công (thứ 2 từ trái sang) và Đại tướng Chu Huy Mân (đeo kính, thứ 4 từ trái sang - nguyên Tư lệnh Quân giải phóng Quân khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ) trong chiến dịch giải phóng thành phố Đà Nẵng (3/1975). (Ảnh: TTXVN)

Đại tướng Chu Huy Mân - người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà chính trị, quân sự tài giỏi của Đảng và Quân đội ta. Suốt cuộc đời mình, Đại tướng luôn đem hết sức lực và trí tuệ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; đóng góp to lớn trong xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, bách chiến, bách thắng. Sự cống hiến đó của Đồng chí được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Trước hết, chăm lo xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dù ở cương vị nào (từ Đội phó Đội Tự vệ Đỏ đến Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước), Đại tướng đều quan tâm xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị, tư tưởng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng nhất. Đồng chí thường xuyên chỉ đạo cán bộ các cấp và trực tiếp bồi dưỡng lập trường, quan điểm, lý tưởng cách mạng; xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng chí chỉ rõ “Ưu thế chính trị tinh thần đã sẵn có trong mỗi cán bộ, chiến sĩ ta. Vấn đề còn lại là làm thế nào để phát huy cho được ưu thế ấy”[1]? Vì thế, công tác đảng, công tác chính trị là phải chú trọng phát huy vai trò tiền phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện dân chủ quân sự rộng rãi nhằm xây dựng ý chí, quyết tâm cho bộ đội. Theo Đồng chí, công tác đảng, công tác chính trị không phải chỉ thực hiện những việc to tát, trừu tượng mà cần thực hiện ngay từ những việc làm cụ thể, thiết thực. Ví như, Đồng chí đã trao cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 cọc gỗ vót nhọn để đào công sự khi bộ đội thiếu cuốc, xẻng (trong trận chiến đấu ở Kỳ Sanh 8-1964); trao dây thừng cho Chính ủy các Trung đoàn 33, 66, 320 để trói tù binh Mỹ; tuyên bố giữ lại những ưu điểm, bỏ hết khuyết điểm của cán bộ trung, cao cấp tại Lớp tập huấn chính trị của Quân khu 5 đầu năm 1966 đã có tác dụng động viên cán bộ, chiến sĩ hăng hái hoàn thành nhiệm vụ. Đúng như lời nhận xét của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 5 về Đại tướng:“Làm công tác tư tưởng và động viên bộ đội khi ra trận thật nhạy bén, thiết thực, cụ thể, lời động viên của anh có sức mạnh tinh thần gấp nhiều lần vật chất để đánh thắng quân địch”[2]. Ở cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (1977 - 1986), Đại tướng vẫn dành nhiều thời gian lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, khêu gợi, động viên bộ đội khắc phục khó khăn, xây dựng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Có lần, đồng chí phải đi bộ, đi xe kéo pháo vượt chặng đường dài, lầy lội lên biên giới để nắm tình hình, kiểm tra điều kiện ăn, ở, sinh hoạt của bộ đội, động viên tinh thần, giao nhiệm vụ bảo vệ biên cương Tổ quốc cho cán bộ, chiến sĩ. Với phong cách làm việc “khẩn trương, sâu sắc, thiết thực, cụ thể, không hình thức”, Đại tướng thường phát hiện nhanh, dự báo sớm những tình huống và nêu vấn đề cùng cán bộ các cấp nghiên cứu, giải quyết. Chính “những suy nghĩ và việc làm ấy của Đồng chí đã có sức lan tỏa tới mọi người, hâm nóng lòng nhiệt tình cách mạng và ý chí vươn lên của mỗi cán bộ, đảng viên”[3] là điều kiện tiên quyết để xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của Quân đội.

Hai là, chăm lo xây dựng LLVT về tổ chức. Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân, quan điểm tổ chức quân sự của Đảng và Nhà nước ta, lại có tư duy chiến lược sắc sảo, vượt trội, Đại tướng đã đánh giá đúng tình hình, dự báo sớm thủ đoạn của địch, đưa ra những vấn đề có tính lý luận, thực tiễn cao trong xây dựng LLVT đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến tranh cách mạng. Đầu năm 1964, với tư cách Trưởng đoàn kiểm tra của Quân ủy Trung ương vào chiến trường Khu 5, Đồng chí đã kiên quyết yêu cầu Quân khu trong tổ chức LLVT phải: “Nâng cao khả năng cơ động chiến đấu của bộ đội chủ lực. Tổ chức gọn nhẹ, từng bước nâng cao dần thành phần chiến đấu, tăng đơn vị chiến đấu, giảm bớt đơn vị phục vụ”[4], để đáp ứng kịp thời sự phát triển của chiến trường. Khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào chiến trường miền Nam, Đồng chí khẳng định: Bộ đội chủ lực không thể xé nhỏ, phân tán, đánh nhỏ, đánh tiêu hao, mà phải tác chiến tập trung ở quy mô thích hợp, đủ sức đánh tiêu diệt từng đơn vị địch; muốn vậy, Quân khu phải khẩn trương phát triển các đơn vị lên quy mô trung đoàn, sư đoàn chủ lực, thực hiện tác chiến linh hoạt trên từng địa bàn, tạo thế cho nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhờ đó, năm 1965, từ hai trung đoàn5, Quân khu 5 đã phát triển thành hai sư đoàn chủ lực, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến trường. Sau Hiệp định Pa-ri, Chính quyền Sài Gòn công khai phá hoại Hiệp định, ra sức lấn đất, giành dân, đánh phá vùng giải phóng của ta. Trước tình hình đó, trong Quân khu 5, có không ít ý kiến đề nghị tổ chức các đơn vị chủ lực thành 25 đội công tác (mỗi tiểu đoàn một đội) để chống lấn chiếm, bình định của địch. Tuy nhiên, với tầm nhìn sáng suốt, Đồng chí vẫn giữ quan điểm “cần phải giữ chủ lực tập trung, sẵn sàng làm cú đấm quyết định”[6] để thực hiện quyết tâm chiến lược khi có thời cơ. Vì thế, Quân khu có đủ sức mạnh đánh thắng địch ở Nông Sơn – Trung Phước, Bắc Phú Mỹ và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Bên cạnh đó, Đồng chí còn coi trọng xây dựng lực lượng dân quân, du kích, nhất là các đội du kích chuyên trách, như: đặc công, công binh, đánh xe tăng, cơ giới và bắn máy bay bay thấp, trực thăng của địch… Để xây dựng LLVT không ngừng lớn mạnh, Đồng chí đã chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa củng cố biên chế tổ chức với nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng và giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là chiến sĩ ở các đơn vị. Đặc biệt, trong lúc chiến trường Khu 5 đang diễn ra ác liệt, việc bảo đảm quân số chiến đấu khó khăn, Đồng chí vẫn cử hàng ngàn cán bộ ra hậu phương đào tạo làm nguồn xây dựng cho Quân khu và Quân đội sau này.

Ba là, chăm lo nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật cho LLVT. Trước đội quân xâm lược nhà nghề có quân đông, vũ khí, trang bị hiện đại hơn ta nhiều lần, vấn đề bức thiết đặt ra là đánh bằng cách nào để giành thắng lợi, nhưng ít thương vong? Nung nấu tìm lời giải này, một mặt, Đồng chí trực tiếp xuống đơn vị trao đổi, bàn bạc dân chủ với cán bộ, chiến sĩ để vận dụng chiến thuật, kỹ thuật cho phù hợp với từng đối tượng, từng trận đánh và từng chiến dịch; mặt khác, chú trọng xây dựng cho từng đơn vị giỏi một chiến thuật (sở trường), đánh tốt các chiến thuật khác; đồng thời, thống nhất tư tưởng chỉ đạo: ta đánh “để lấy miếng” tuyệt đối không đánh “để lấy tiếng”, đánh thắng mà bộ đội thương vong cao, ta nghĩ gì về xương máu bộ đội”[7]. Đồng chí cũng nghiêm khắc phê phán tư tưởng đánh tiêu hao, đánh theo kiểu “góp gió thành bão”, tìm cách “chộp” một vài tên địch để lấy thành tích... Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn chiến trường Khu 5, Đồng chí đề xuất với Khu ủy chỉ đạo các đơn vị tích cực thực hiện phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, đánh địch bằng “hai chân, ba mũi” trên cả ba vùng chiến lược. Bản thân đồng chí luôn bám sát thực tế chiến trường để kịp thời hướng dẫn, chỉ thị cho các đơn vị, địa phương tăng cường phối hợp chiến đấu. Qua đó, “góp phần phát triển nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch tổng hợp gồm hai lực lượng: chính trị (đấu tranh chính trị, binh vận) và quân sự (ba thứ quân) là đỉnh cao của chiến tranh nhân dân ở Khu 5”[8]. Trong hòa bình, Đồng chí còn đề ra yêu cầu xây dựng LLVT theo hướng “động viên khả năng tiềm tàng của cán bộ và chiến sĩ trong cả ba thứ quân; trong các quân chủng, binh chủng; trong các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trong các học viện, nhà trường… tham gia nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự, sáng tạo ra những cách đánh hay nhất, có hiệu lực nhất nhằm đánh thắng quân thù”[9] trong tình hình mới.

Bốn là, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho LLVT. Nắm vững đường lối kháng chiến lâu dài của Đảng, đồng chí đã cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo các đơn vị tích cực thực hiện phương châm: vừa đánh giặc, vừa huấn luyện, vừa sản xuất tự túc một phần lương thực. Thực hiện chủ trương trên, đồng chí đề xuất với Quân khu phát động phong trào “rẫy sắn cách mạng, rẫy sắn bộ đội”. Theo đó, sắn được trồng ở khắp nơi: xung quanh nơi trú quân, dọc đường hành quân, trên nóc hầm dã chiến, bên cạnh hố bom... Những thời điểm chiến đấu gian khổ, ác liệt, nguồn dự trữ chiến đấu cạn kiệt, Đồng chí đã chủ động yêu cầu các tỉnh vận động nhân dân quyên góp ủng hộ, tham gia vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch; đồng thời, đề nghị Trung ương chi viện. Nhờ đó, Quân khu không những đã kịp thời bảo đảm được vật chất hậu cần, kỹ thuật mà còn bổ sung đáng kể vào nguồn dự trữ chiến đấu. Khi đất nước vừa thống nhất, lại bị bao vây cấm vận, khó khăn chồng chất, tác động không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, Đại tướng đã chủ động đề xuất với các bộ, ban, ngành Trung ương giải quyết các chế độ về tiền lương, cải thiện đời sống của LLVT, chú trọng đến cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo. Trong xây dựng LLVT, Đại tướng luôn yêu cầu công tác bảo đảm vũ khí, trang bị phải được đẩy mạnh trong cả ba thứ quân, trên tất cả các khâu và phải biết phát huy sức mạnh của vũ khí, trang bị trong mối quan hệ kỹ thuật với chiến thuật.

Những việc làm, ý kiến chỉ đạo và thực tiễn xây dựng LLVT trên thể hiện tấm lòng son sắt và nguyện vọng thiết tha của Đại tướng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc, đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển của Quân đội ta. Cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời, Đại tướng vẫn còn viết mấy lời tâm huyết gửi đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Từ tuổi thanh xuân bước vào đội ngũ chiến đấu của Đảng, được Đảng và Bác Hồ giáo dục, rèn luyện, được đồng chí, nhân dân, đồng đội tận tình giúp đỡ, trước đây, hiện nay, tôi chỉ có một ham muốn, một khát vọng là Đảng ta mãi mãi trong sạch, vững mạnh, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng nắm chắc quân đội, quan tâm xây dựng sức mạnh chính trị và tổ chức cán bộ cho quân đội, được thế thì dù sóng gió bão bùng đến đâu, Đảng cũng vững vàng dẫn dắt dân tộc, nhân dân ta và quân đội ta vững bước đến đỉnh cao hạnh phúc, văn minh của thời đại mới”[10].

 

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN MINH ĐỨC

 

____________

1,2,3, 7,8 - Đại tướng Chu Huy Mân - Nhà chính trị, quân sự tài ba, tấm gương sáng về đạo đức cách mạng (Hồi ký), Nxb CTQG, H. 2007, tr. 69, 191, 134, 145, 65-66.

4,6 - Lê Hải Triều - Tướng Hai Mạnh, Nxb QĐND, H. 2005, tr. 106, 146.

5 - Trung đoàn 1 ở Quảng Nam, Quảng Ngãi; Trung đoàn 2 ở Bình Định.

9 - Thượng tướng Chu Huy Mân - Nâng cao hiệu lực của công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, H. 1979, tr. 26.

10 - Đại tướng Chu Huy Mân - Người Chính ủy Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H. 2006, tr. 91.

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Thanh niên với tương lai đất nước
Trải qua các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước, thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, được Bác Hồ kính yêu và các thế hệ cách mạng dìu dắt, tuổi trẻ nước ta đã viết nên nhiều trang sử đẹp bằng lý tưởng cao cả, tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến.