Thứ Sáu, 09/01/2026, 16:03 (GMT+7)
Những chủ trương công tác lớn Chuyên luận chỉ đạo
Tám mươi năm hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam là một chặng đường lịch sử đặc biệt, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong hành trình ấy, Quốc hội luôn là trung tâm đoàn kết, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn dân; là thiết chế quyền lực nhà nước cao nhất, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với những bước chuyển mình của đất nước; đã và đang tiếp tục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, đổi mới và khát vọng vươn lên cùng dân tộc.
Cách đây 80 năm, ngày 06/01/1946, đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”1, toàn thể Nhân dân Việt Nam, từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt già trẻ, gái trai,… đã tiến hành cuộc Tổng tuyển cử sôi nổi trên khắp cả nước.
Với tổng số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 89% và tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta đã bầu được 333 đại biểu, Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Thắng lợi đó là một mốc son chói lọi, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ; là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa có tính hợp pháp, dân chủ, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đồng thời, thể hiện niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của Nhân dân ta; đó cũng là sự biểu thị khát vọng của Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trải qua 80 năm đồng hành cùng dân tộc, Quốc hội Việt Nam đã xây dựng được vị thế vững chắc trong lòng Nhân dân, không ngừng phát triển lớn mạnh, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện tốt chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Các hoạt động của Quốc hội phản ánh sự kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu phát triển và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; giữa xây dựng thể chế kinh tế - xã hội và củng cố sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân; khơi dậy ý chí và đoàn kết trong toàn dân, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Thực hiện chức năng của mình, Quốc hội luôn giữ vai trò trung tâm trong việc xây dựng nền tảng thể chế của Nhà nước và xác lập khuôn khổ pháp lý cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nhất, có ý nghĩa lâu dài, tạo nền móng cho quá trình tổ chức quyền lực, quản trị quốc gia và phát triển bền vững của đất nước.
Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, khẳng định quyền lực thuộc về Nhân dân, thiết lập mô hình nhà nước pháp quyền và các nguyên tắc cơ bản của quản trị quốc gia. Tiếp đó, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 được ban hành trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, phản ánh sự phát triển về tư duy chính trị, yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, kiện toàn bộ máy nhà nước, xác lập cơ chế quản lý kinh tế mới và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển quan trọng về tư duy lập hiến khi khẳng định rõ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; mở rộng nền tảng pháp lý cho công cuộc đổi mới và hội nhập sâu rộng.
Trên cơ sở Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành hệ thống luật ngày càng đầy đủ, bao quát mọi lĩnh vực, phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử. Các đạo luật về kinh tế đã góp phần hình thành môi trường đầu tư minh bạch, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp, hoàn thiện thể chế tài chính - ngân sách, phát triển thị trường vốn, thị trường lao động và hội nhập kinh tế quốc tế. Các đạo luật về xã hội đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an sinh, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, cải cách tư pháp và nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân. Hệ thống pháp luật về quốc phòng - an ninh được Quốc hội chú trọng xây dựng và hoàn thiện toàn diện, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, bảo đảm sức mạnh tổng hợp của đất nước trong bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Quốc hội không chỉ làm tốt vai trò lập pháp mà còn là trung tâm điều hòa lợi ích, thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, bảo đảm sự thống nhất giữa lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân. Hoạt động lập pháp ngày càng khoa học, bài bản, lấy đánh giá tác động chính sách và tham vấn chuyên gia làm yêu cầu bắt buộc; đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch, phản ánh đầy đủ lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Với trách nhiệm là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội đã đồng hành cùng Đảng và các thiết chế khác của hệ thống chính trị trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn đổi mới và phát triển. Các nghị quyết của Quốc hội được ban hành trong những thời khắc quan trọng của đất nước, như: Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1986 - 1990 đã mở đường cho đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới; Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1991, góp phần quan trọng ổn định nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong bối cảnh đất nước và quốc tế có nhiều biến động phức tạp. Nhiều công trình, dự án trọng điểm quốc gia được Quốc hội quyết định tạo thành đòn bẩy cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta, như các dự án: khí - điện - đạm Cà Mau, đường dây 500 kV Bắc - Nam, đường Hồ Chí Minh, thủy điện Sơn La, Lai Châu, cảng hàng không Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc - Nam, v.v. Mới đây, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là bước đổi mới quan trọng, hướng tới quản trị địa phương hiện đại, kiến tạo phát triển, tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững của địa phương và cả nước trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, Quốc hội đã ban hành các chiến lược và quy hoạch nền tảng, cùng những quyết sách lớn về tài khóa, tiền tệ, đầu tư công và hạ tầng, tạo cơ sở giữ vững ổn định vĩ mô, cải thiện môi trường phát triển và định hướng mô hình tăng trưởng bền vững, hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Ở lĩnh vực quốc phòng - an ninh, Quốc hội thông qua hệ thống chiến lược trọng yếu, quyết định ngân sách và các chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và hiện đại. Đồng thời, phê chuẩn nhiều điều ước quốc tế, quyết định các nội dung về an ninh phi truyền thống, đối ngoại quốc phòng và tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, qua đó nâng cao vị thế và khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.
Có thể khẳng định rằng, quyền quyết định những vấn đề trọng đại được thực thi ngày càng khoa học, minh bạch và trách nhiệm, là dấu ấn bền vững, thể hiện vai trò tối cao của Quốc hội trong việc kiến tạo tương lai, củng cố sự ổn định chính trị và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quyền giám sát tối cao là một trụ cột quan trọng trong hoạt động của Quốc hội, góp phần bảo đảm việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và củng cố trách nhiệm giải trình trong hệ thống chính trị. Trải qua tám thập kỷ, hoạt động giám sát của Quốc hội ngày càng được đổi mới, hoàn thiện và trở thành công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, thúc đẩy kỷ luật, kỷ cương hành chính, đồng thời phản ánh yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Quốc hội đã từng bước mở rộng phạm vi và phương thức giám sát theo hướng toàn diện và có chiều sâu, ngày càng thực chất, tác động rõ nét đến chất lượng quản lý nhà nước và hiệu quả thực thi chính sách. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn - một hình thức giám sát đặc thù đã trở thành diễn đàn dân chủ, minh bạch, tạo không gian để đại biểu Quốc hội đối thoại thẳng thắn, đi vào trọng tâm vấn đề, làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu bộ, ngành. Việc truyền hình, phát thanh trực tiếp các phiên chất vấn giúp cử tri cả nước cùng theo dõi, qua đó tăng tính công khai, minh bạch và tạo sức ép cải thiện hiệu quả điều hành của bộ máy nhà nước.
Cùng với đó, Quốc hội đã thể hiện rõ vai trò tiên phong trong đối ngoại nghị viện và nâng cao vị thế Việt Nam. Hoạt động đối ngoại nghị viện đã trở thành một trụ cột quan trọng trong tổng thể đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, góp phần trực tiếp nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Thông qua đối ngoại nghị viện toàn diện trên ba bình diện: song phương, đa phương và trong khuôn khổ hợp tác nghị sĩ, không chỉ mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan lập pháp trên thế giới mà còn tích cực tham gia, đề xuất và dẫn dắt nhiều sáng kiến tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, khẳng định hình ảnh một Quốc hội đổi mới, chủ động, trách nhiệm và hội nhập sâu rộng, tạo nền tảng thúc đẩy quan hệ đối ngoại nhà nước và ngoại giao Nhân dân, đồng thời củng cố lòng tin chính trị, tăng cường hiểu biết và chia sẻ lợi ích giữa Việt Nam và các quốc gia.
Trong suốt quá trình phát triển, đặc biệt là từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay, Quốc hội Việt Nam đã có những bước chuyển quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Những đổi mới này không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội mà còn tạo nền tảng quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền quản trị quốc gia hiện đại.
Hiện nay, tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; xung đột vũ trang, tranh chấp chủ quyền, an ninh phi truyền thống diễn biến khó lường; biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan tác động mạnh mẽ đến phát triển bền vững. Trong nước, công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đồng bộ, ổn định, minh bạch và tương thích với chuẩn mực quốc tế. Áp lực đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, nâng cao năng suất lao động, thu hẹp chênh lệch vùng miền,… đặt ra yêu cầu thể chế hóa kịp thời và hiệu quả. Kỳ vọng của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước, trong đó có Quốc hội ngày càng cao. Những yêu cầu đó đặt ra cho Quốc hội nhiệm vụ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng hoạt động để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng lập pháp theo hướng đồng bộ, hiện đại. Quốc hội tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo hướng tăng cường phân tích, đánh giá tác động chính sách cả về định tính và định lượng. Các dự án luật phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm chất lượng hồ sơ, tính toàn diện trong phạm vi điều chỉnh và tính tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các đạo luật hiện hành cần được tiến hành thường xuyên để kịp thời loại bỏ những quy định chồng chéo, bất cập, tạo môi trường pháp lý minh bạch và ổn định cho doanh nghiệp, người dân và các cơ quan quản lý.
Cùng với đó, coi trọng việc thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối của Đảng, nhất là những định hướng lớn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các lĩnh vực mới, có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội, như: chuyển đổi số, dữ liệu số, phát triển trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo và an ninh phi truyền thống phải được ưu tiên nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và xu thế toàn cầu.
Việc hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh tiếp tục là yêu cầu đặc biệt quan trọng, nhằm bảo đảm củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân ngày càng vững chắc; nâng cao khả năng ứng phó với an ninh mạng, an ninh phi truyền thống và bảo vệ chủ quyền quốc gia từ sớm, từ xa.
Bên cạnh đó, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hoạt động lập pháp, tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức xã hội và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời, đẩy mạnh công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng pháp luật, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia góp ý, giám sát quá trình lập pháp. Việc ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số vào quy trình xây dựng luật, từ cơ sở dữ liệu pháp luật dùng chung đến quy trình hồ sơ điện tử và đánh giá chính sách bằng công nghệ sẽ góp phần nâng cao đáng kể chất lượng lập pháp.
Hai là, nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia theo hướng khoa học, thận trọng. Trước đòi hỏi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu đặt ra là chất lượng mọi quyết định của Quốc hội phải được nâng cao hơn nữa, bảo đảm tính khoa học, tính minh bạch, khả năng dự báo và sự thận trọng cần thiết. Điều này đòi hỏi Quốc hội tiếp tục đổi mới phương thức xem xét, đánh giá và thông qua các quyết sách, giúp các nghị quyết thực sự trở thành nền tảng cho quản trị quốc gia hiện đại, bảo vệ lợi ích lâu dài của đất nước.
Trước hết, Quốc hội cần tăng cường ứng dụng phân tích chiến lược, phân tích tác động chính sách và đánh giá đa chiều đối với mọi quyết định có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh. Việc xem xét các chiến lược phát triển 10 năm, kế hoạch 5 năm, ngân sách nhà nước hằng năm và các dự án trọng điểm quốc gia phải dựa trên hệ thống thông tin đầy đủ, số liệu chính xác và dự báo dài hạn. Sự tham gia của các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia độc lập và các ủy ban của Quốc hội trong quá trình thẩm tra là yếu tố then chốt bảo đảm các quyết sách có cơ sở khoa học vững chắc và hạn chế tối đa rủi ro thể chế.
Bên cạnh đó, Quốc hội cần tiếp tục tăng cường kỷ luật tài khóa và giám sát chặt chẽ cân đối ngân sách, nhằm bảo đảm nguồn lực quốc gia được phân bổ hợp lý, đặc biệt cho các lĩnh vực then chốt như khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, phát triển hạ tầng chiến lược và quốc phòng, an ninh. Việc quyết định chủ trương đầu tư các dự án quan trọng quốc gia cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng tính khả thi, hiệu quả kinh tế - xã hội, tác động đến quốc phòng, an ninh, môi trường và sự phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn. Kiên quyết loại bỏ các dự án kém hiệu quả, tiềm ẩn rủi ro cao hoặc xung đột với định hướng phát triển bền vững.
Quốc hội cần tiếp tục phát huy vai trò quyết định chủ trương hiện đại hóa lực lượng vũ trang, phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới. Các quyết định liên quan đến phòng thủ dân sự, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh môi trường và các hình thái an ninh phi truyền thống khác phải được xem xét với tư duy chiến lược dài hạn, bảo đảm chủ động ứng phó với mọi tình huống.
Quốc hội cần tiếp tục đánh giá toàn diện các tác động kinh tế, pháp lý và an ninh đối với từng hiệp định, bảo đảm việc tham gia các cam kết quốc tế phải phù hợp lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ chủ quyền và tạo thuận lợi cho phát triển bền vững. Đồng thời, tăng cường giám sát việc nội luật hóa và thực thi các điều ước quốc tế để hạn chế rủi ro pháp lý và tăng hiệu quả hội nhập.
Tiếp tục nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, phân cấp, phân quyền, cải cách tư pháp, cải cách tiền lương và phát triển chính quyền địa phương. Đây là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hiệu lực quản trị, chất lượng phục vụ người dân và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Các quyết sách trong lĩnh vực này cần được xem xét thận trọng, đặt trong tổng thể xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dựa trên đánh giá tác động thể chế toàn diện.
Để nâng cao chất lượng quyết định, Quốc hội cần chuẩn hóa quy trình ra quyết sách theo hướng minh bạch, khoa học và có trách nhiệm giải trình cao. Việc tăng cường công khai thông tin, mở rộng thảo luận dân chủ, ứng dụng công nghệ số trong phân tích dữ liệu và xây dựng báo cáo sẽ giúp đại biểu có đầy đủ thông tin để xem xét, đánh giá mọi vấn đề quan trọng. Kết hợp chặt chẽ giữa thẩm tra độc lập của các ủy ban, phản biện của chuyên gia và tham vấn ý kiến Nhân dân sẽ tạo nền tảng vững chắc để mỗi nghị quyết của Quốc hội thực sự là kết tinh của trí tuệ tập thể.
Ba là, nâng cao hiệu lực giám sát tối cao, bảo đảm kỷ cương, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Trong điều kiện phát triển mới, khi yêu cầu về hiệu lực quản trị quốc gia, tính liêm chính công và trách nhiệm giải trình ngày càng cao, việc tăng cường hiệu lực giám sát tối cao trở thành nhiệm vụ trọng tâm, nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được vận hành đúng Hiến pháp và pháp luật, phục vụ lợi ích của Nhân dân, đồng thời củng cố niềm tin xã hội đối với bộ máy công quyền. Giám sát thực chất, khách quan và hiệu quả không chỉ là yêu cầu hiến định, mà còn là đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội phát triển nhanh, nhiều vấn đề mới phát sinh và áp lực minh bạch hóa ngày càng lớn.
Trước hết, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới tư duy và phương thức giám sát theo hướng khoa học, dựa trên bằng chứng, tăng cường sử dụng dữ liệu lớn, công nghệ số và đánh giá rủi ro để xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, nhất là những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, tiêu cực hoặc có tác động lớn đến đời sống Nhân dân. Các cuộc giám sát phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, có kế hoạch dài hạn, xác định rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp giám sát; đồng thời áp dụng mô hình giám sát tích hợp, kết hợp giữa giám sát văn bản, giám sát thực địa, tham vấn chuyên gia và phân tích dữ liệu. Nâng cao tính độc lập, khách quan trong hoạt động giám sát của các ủy ban của Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Tăng cường năng lực của bộ máy tham mưu giúp việc, nhất là năng lực nghiên cứu, phân tích chính sách và phân tích định lượng; đồng thời mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu, chuyên gia độc lập trong nước và quốc tế.
Hoạt động chất vấn và giải trình phải tiếp tục được phát huy theo hướng đối thoại thẳng thắn, làm rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước. Việc tăng cường chất vấn theo chuyên đề, tổ chức phiên giải trình thường xuyên hơn và theo dõi sát quá trình thực hiện các cam kết sau chất vấn sẽ góp phần biến chất vấn thành công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy hành động và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Siết chặt trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, ngân sách, đầu tư công, quản lý đất đai, tài nguyên - môi trường, phát triển hạ tầng, giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Quốc hội cần tăng cường các cuộc giám sát theo chuyên đề sâu, có phạm vi rộng, gắn kết luận giám sát với việc sửa đổi chính sách và xử lý trách nhiệm đối với các sai phạm; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch hệ thống thông tin để Nhân dân có thể giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động giám sát là yêu cầu cấp thiết. Cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát cần được xây dựng thống nhất, liên thông, kịp thời, có khả năng phân tích tự động và phát hiện bất thường. Việc đánh giá mức độ thực hiện kiến nghị giám sát, công khai kết quả theo dõi và đưa ra biện pháp xử lý khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ là yếu tố quan trọng để tạo sự chuyển biến thực chất trong bộ máy nhà nước. Điều này cũng góp phần củng cố tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền lực nhà nước được vận hành đúng đắn, hiệu quả và vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Bốn là, phát huy vai trò đối ngoại nghị viện, chủ động và trách nhiệm trong hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, chứa đựng nhiều yếu tố bất định, đối ngoại nghị viện ngày càng có ý nghĩa chiến lược đối với việc bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển và nâng cao vị thế quốc gia. Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Quốc hội trong thời gian tới là tiếp tục phát huy vai trò đối ngoại nghị viện theo hướng chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Quốc hội tiếp tục tham gia sâu rộng hơn vào các cơ chế hợp tác nghị viện khu vực và quốc tế, khẳng định tiếng nói có trọng lượng tại các diễn đàn như: Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA), Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội nghị Á - Âu (ASEP). Việc chủ động đề xuất sáng kiến, tham gia xây dựng chương trình nghị sự và phát huy vai trò tại các diễn đàn này sẽ tạo điều kiện để Việt Nam thúc đẩy quan điểm về hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững và tôn trọng luật pháp quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để tăng cường tiếng nói của Quốc hội Việt Nam trong giải quyết các vấn đề toàn cầu như an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, năng lượng và chuyển đổi số.
Đối ngoại nghị viện song phương cũng cần được đẩy mạnh theo hướng thực chất và chiều sâu. Tăng cường trao đổi với các cơ quan lập pháp trên thế giới, nhất là các quốc gia có vai trò quan trọng trong khu vực và toàn cầu, các đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam. Thông qua các hoạt động tiếp xúc cấp cao, trao đổi đoàn, đối thoại nghị sĩ và hợp tác giữa các ủy ban chuyên môn, Quốc hội có thể thúc đẩy hợp tác lập pháp, chia sẻ kinh nghiệm quản trị quốc gia, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực thiết yếu.
Nâng cao chất lượng hoạt động phê chuẩn các điều ước quốc tế. Quốc hội cần bảo đảm mọi cam kết quốc tế được xem xét toàn diện, thận trọng, dựa trên đánh giá sâu sắc về tác động kinh tế - xã hội, pháp lý và an ninh quốc gia. Việc phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, thỏa thuận hợp tác chiến lược hay các cam kết an ninh phải đi đôi với giám sát việc nội luật hóa và thực thi, bảo đảm các cam kết được thực hiện nghiêm túc, hạn chế rủi ro pháp lý và tối ưu hóa lợi ích quốc gia.
Bên cạnh đó, đối ngoại nghị viện cần hỗ trợ mạnh mẽ cho đối ngoại quốc phòng, an ninh. Thông qua các đối thoại nghị sĩ song phương và đa phương, Quốc hội có thể góp phần thúc đẩy hợp tác về an ninh biển, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, ứng phó thách thức an ninh phi truyền thống, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác, góp phần bảo vệ chủ quyền và lợi ích chiến lược trong bối cảnh khu vực có nhiều biến động.
Quốc hội cần đẩy mạnh truyền thông nghị viện, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về chính sách, pháp luật và đường lối phát triển của đất nước; chủ động phản bác các luận điệu sai trái, bảo vệ hình ảnh và lập trường chính nghĩa của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc nâng cao năng lực thông tin đối ngoại sẽ góp phần củng cố vị thế quốc gia, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với các mục tiêu của Việt Nam.
Năm là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng đại biểu và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội. Trong bối cảnh yêu cầu quản trị quốc gia ngày càng cao và điều kiện phát triển thay đổi nhanh chóng, việc tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn phát triển, từ kỳ vọng của Nhân dân về một cơ quan lập pháp hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính và hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức Quốc hội theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, mạnh chuyên môn và nâng cao hiệu quả phối hợp. Việc củng cố và nâng cao chất lượng các ủy ban của Quốc hội và các cơ quan tham mưu, giúp việc là hết sức quan trọng. Các cơ quan này phải có năng lực nghiên cứu, phân tích chính sách và dự báo chiến lược sâu sắc hơn; ứng dụng các phương pháp khoa học hiện đại và công nghệ số vào công tác thẩm tra, giám sát và hỗ trợ đại biểu. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Quốc hội với Văn phòng Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan trong hệ thống chính trị để bảo đảm vận hành nhịp nhàng, hiệu quả, không chồng chéo.
Một nội dung trọng tâm là nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng bài bản, dài hạn về luật pháp, kinh tế, quốc phòng - an ninh, quan hệ quốc tế, công nghệ số và kỹ năng nghị trường cho đại biểu, đặc biệt là đại biểu chuyên trách. Vai trò của từng đại biểu trong thảo luận, chất vấn, giám sát và quyết định chính sách phải được phát huy tối đa thông qua việc tăng cường cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu và các công cụ phân tích. Việc nâng cao chất lượng đại biểu cũng gắn liền với trách nhiệm tiếp xúc cử tri, phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của Nhân dân, qua đó bảo đảm hoạt động của Quốc hội sát thực tiễn và mang tính đại diện cao.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ hoạt động của Quốc hội. Tập trung phát triển mô hình “Quốc hội số” với hạ tầng công nghệ hiện đại, các nền tảng phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ nghiên cứu, thẩm tra và giám sát. Ngoài ra, Quốc hội cần đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông và kết nối với Nhân dân thông qua các nền tảng số. Những tiến bộ trong truyền thông nghị trường, tham vấn công khai dự thảo luật, phản hồi ý kiến người dân qua môi trường điện tử sẽ giúp tăng cường dân chủ, củng cố sự đồng thuận xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ trong tiếp xúc cử tri và giám sát thực hiện chính sách sẽ giúp đại biểu nắm bắt kịp thời thực tiễn và kiến nghị chính xác, hiệu quả hơn.
Tám mươi năm xây dựng, hoạt động và phát triển của Quốc hội Việt Nam là chặng đường khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, đổi mới và khát vọng vươn lên cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, Quốc hội Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện tốt vai trò cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng hành cùng Nhân dân, tiên phong kiến tạo thể chế, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
TRẦN THANH MẪN, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ________________
1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 166.
Tám mươi năm Quốc hội Việt Nam - bản lĩnh,trí tuệ,đổi mới và khát vọng vươn lên cùng dân tộc
Phát huy truyền thống Quân đội anh hùng trong giai đoạn phát triển mới 22/12/2025
Phụ nữ Quân đội bản lĩnh - trí tuệ - kỷ cương - nhân ái, vững tin bước vào kỷ nguyên mới 20/12/2025
Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong kỷ nguyên mới 18/12/2025
Phát biểu kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng 11/12/2025
Nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập tác chiến không gian mạng 08/12/2025
Tăng cường đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trong Quân đội 20/11/2025
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII 06/11/2025
Thông báo Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị sơ kết tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị 17/10/2025
Quán triệt và thực hiện quan điểm “Dân là gốc”, tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc 12/10/2025
Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội 10/10/2025
Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong kỷ nguyên mới
Phát huy truyền thống Quân đội anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
Phát biểu kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng
Phụ nữ Quân đội bản lĩnh - trí tuệ - kỷ cương - nhân ái, vững tin bước vào kỷ nguyên mới
Tám mươi năm Quốc hội Việt Nam - bản lĩnh, trí tuệ, đổi mới và khát vọng vươn lên cùng dân tộc