Thứ Năm, 01/10/2026, 05:13 (GMT+7)
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Bảo vệ Tổ quốc
Trong suốt chặng đường 60 năm xây dựng, phát triển (28/10/1966 - 28/10/2026), Học viện Kỹ thuật quân sự không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học; đồng thời, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ tri thức, công nghệ và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng lực nội sinh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, từng bước khẳng định vị thế là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của Quân đội và đất nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực khoa học - kỹ thuật chất lượng cao cho Quân đội và đất nước, với tên gọi Phân hiệu II Đại học Bách khoa, Học viện đã chủ động tham mưu cho cấp trên tuyển chọn, cử nhiều cán bộ, giảng viên, học viên ưu tú sang Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa học tập, nghiên cứu nhằm tiếp thu tri thức khoa học tiên tiến, đặt nền móng cho sự phát triển của Học viện và nhiều lĩnh vực về khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, Học viện tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong điều kiện mới thông qua mô hình đào tạo hai giai đoạn1, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, học viên tiếp cận những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và môi trường nghiên cứu tiên tiến, qua đó xây dựng đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội và phát triển đất nước. Một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển là năm 1991, khi Học viện chính thức mang tên Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, mở ra không gian hợp tác sâu rộng hơn với các đối tác dân sự trong nước và quốc tế. Từ đó, hợp tác quốc tế ngày càng được chú trọng, trở thành cầu nối quan trọng để Học viện tiếp cận tri thức, công nghệ tiên tiến, phát triển đào tạo, nghiên cứu và nâng cao vị thế trong nước, quốc tế.
Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, trực tiếp là Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31/12/2013 của Quân ủy Trung ương “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, Học viện đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chương trình, đề án về công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Trọng tâm là triển khai thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài, phù hợp với từng giai đoạn, đạt được kết quả tích cực. Đáng chú ý, trong giai đoạn này, cùng với duy trì mối quan hệ hợp tác truyền thống tốt đẹp với các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu lớn của Liên bang Nga, các nước Đông Âu, Cuba,... Học viện đã mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia có nền khoa học, công nghệ tiên tiến, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ và một số nước châu Âu. Đã có hàng nghìn lượt cán bộ, giảng viên, học viên được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, thực tập sinh tại nước ngoài, mang theo những tri thức mới, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu tiên tiến về áp dụng tại Học viện. Công tác trao đổi học thuật, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, phối hợp thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc tế cũng được đẩy mạnh. Nhiều chương trình tiên tiến, giáo trình, tài liệu của các trường đại học hàng đầu thế giới đã được chọn lọc, biên dịch và tích hợp vào chương trình đào tạo, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và vị thế, uy tín của Học viện trong hệ thống giáo dục, đào tạo trong Quân đội, quốc gia và quốc tế2.
Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành những động lực trung tâm, quyết định sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với Học viện, đẩy mạnh hợp tác quốc tế càng trở nên quan trọng và được xác định là phương thức huy động, kết nối nguồn lực tri thức, công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng, phát triển Học viện thành đại học nghiên cứu, trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo hàng đầu của Quân đội, quốc gia và vươn tầm quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, trước hết, Học viện tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức, xây dựng quyết tâm chính trị cao, tạo xung lực, khí thế mới trong hợp tác quốc tế, đối ngoại quốc phòng. Đây là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần, lực lượng; đồng thời, bảo đảm công tác hợp tác quốc tế phát triển đúng hướng, hiệu quả cao. Theo đó, Học viện tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW, ngày 26/02/2024 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của hợp tác quốc tế, đối ngoại quốc phòng; nắm vững các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu gắn với yêu cầu xây dựng Học viện thành đại học nghiên cứu hàng đầu của Quân đội, quốc gia và thế giới. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức, hợp tác quốc tế là một nhiệm vụ chính trị trung tâm, chìa khóa, động lực thúc đẩy phát triển của Học viện; đồng thời, chuyển mạnh sang hợp tác chủ động, thực chất, hiệu quả; gắn hợp tác quốc tế với giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Từ kết quả, kinh nghiệm đã đạt được, Học viện tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện bộ khung pháp lý, quy chế nội bộ điều chỉnh hoạt động đối ngoại đảm bảo vừa tuân thủ nghiêm quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, vừa tạo cơ chế thoáng, mở, tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục hành chính, giúp các nhà khoa học dễ dàng tiếp cận các quỹ nghiên cứu và đối tác toàn cầu. Mặt khác, coi trọng phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong hợp tác quốc tế; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ này làm tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm.
Hai là, mở rộng không gian hợp tác quốc tế, thực hiện đa dạng hóa đối tác và làm sâu sắc, thực chất hơn với các đối tác chiến lược. Mạng lưới đối tác chính là kênh dẫn truyền nguồn lực tri thức, công nghệ và tài chính. Việc chuyển trục từ số lượng sang chất lượng, từ bề rộng sang chiều sâu giúp Học viện tận dụng tối đa thế mạnh của các cường quốc công nghệ, qua đó rút ngắn khoảng cách phát triển, tiết kiệm ngân sách và thời gian nghiên cứu. Thực hiện vấn đề này, cùng với duy trì và làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ truyền thống với các đối tác chiến lược thuộc Liên bang Nga và các nước Đông Âu, Học viện tiếp tục đẩy mạnh “Đông tiến” và “Tây tiến”, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với các viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ và châu Âu trên các lĩnh vực mũi nhọn, như: tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, công nghệ vật liệu mới, v.v.
Học viện chỉ đạo các cơ quan chức năng, trực tiếp là Phòng Hợp tác quốc tế và quản lý lưu học sinh quân sự và Phòng Khoa học quân sự tiếp tục nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện “Bản đồ đối tác chiến lược”; phân loại rõ các đối tác theo từng cấp độ: đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chuyên sâu theo dự án và đối tác tiềm năng để có chính sách quan hệ, hợp tác phù hợp. Đồng thời, rà soát, đánh giá toàn diện các biên bản ghi nhớ (MOU) đã ký; kiên quyết thanh lọc, chấm dứt các MOU mang tính chất hình thức, “ngủ đông”. Trong ký kết mới phải gắn liền với nhu cầu học thuật của Học viện, định kỳ đánh giá hiệu quả thực hiện bằng bộ chỉ số đo lường hiệu quả (KPIs) thể hiện ở số lượng chuyên gia trao đổi hoặc sản phẩm khoa học chung. Đồng thời, chủ động tham mưu kiến tạo các kênh đối thoại cấp cao thông qua mạng lưới tùy viên quốc phòng, tham tán phụ trách khoa học công nghệ tại các đại sứ quán, v.v. Qua đó, tiếp cận sớm các học bổng chính phủ và các chương trình tài trợ chuyển giao công nghệ phi thương mại phục vụ giáo dục, đào tạo.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhà giáo, nhà khoa học đầu ngành có uy tín, học thuật cao, đủ năng lực giảng dạy, nghiên cứu độc lập và tham gia các diễn đàn khoa học thế giới. Đây là giải pháp quan trọng, trực tiếp nâng tầm vị thế, uy tín của Học viện và chất lượng, hiệu quả công tác hợp tác quốc tế. Thời gian tới, Học viện tiếp tục bám sát các chương trình, đề án của Chính phủ và Bộ Quốc phòng về hợp tác đào tạo quốc tế để cử cán bộ, giảng viên trẻ xuất sắc đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và thực tập sinh sau tiến sĩ tại các nước phát triển, xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà giáo và nhà khoa học đầu ngành.
Để thực hiện tốt chủ trương này, Học viện tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn ngoại ngữ đối với các chức danh, lấy trình độ tiếng Anh, tiếng Nga trở thành điều kiện tiên quyết trong tuyển dụng, bổ nhiệm và quy hoạch cán bộ quản lý; xây dựng lộ trình bắt buộc giảng viên trẻ phải có khả năng giảng dạy chuyên ngành bằng ngoại ngữ. Cùng với đó, tiếp tục duy trì chính sách khích lệ, động viên các nhà khoa học có công trình công bố trên các tạp chí Q1, Q2 (thuộc danh mục ISI/Scopus) hoặc có bằng độc quyền sáng chế quốc tế mang lại hiệu quả kinh tế, quốc phòng cao. Mở rộng chương trình trao đổi học giả; mời các giáo sư, chuyên gia quân sự nước ngoài, đặc biệt là mạng lưới kiều bào, trí thức người Việt Nam thành danh ở nước ngoài về thỉnh giảng, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và chủ trì các dự án nghiên cứu cốt lõi tại Học viện. Bổ sung hoàn thiện chính sách tuyển chọn, cử đi đào tạo đến tiếp nhận, bố trí và sử dụng sau đào tạo, bảo đảm cán bộ, học viên sau đào tạo trở về công tác lâu dài, phát huy hiệu quả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực chuyên môn được tích lũy phục vụ Học viện.
Bốn là, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu và phát triển, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh quốc tế. Đây là con đường ngắn nhất để Học viện chuyển hóa trực tiếp tri thức hàn lâm thành các giải pháp công nghệ, sản phẩm cụ thể phục vụ xây dựng Quân đội. Thời gian tới, Học viện tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hợp tác quốc tế, chuyển từ tư duy hợp tác chủ yếu để “tiếp nhận học bổng, tiếp thu tri thức” sang hợp tác nghiên cứu trên cơ sở bình đẳng, cùng chia sẻ kết quả và quyền sở hữu trí tuệ theo quy định. Trước mắt, tích cực đàm phán với các đối tác để thành lập các phòng thí nghiệm liên kết, trung tâm nghiên cứu và phát triển, khai thác công nghệ, chuyên gia từ đối tác quốc tế kết hợp với nguồn lực đối ứng về cơ sở vật chất, nhân lực và năng lực nghiên cứu của Học viện. Đẩy mạnh quy hoạch và đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh mang tính liên ngành; giao quyền tự chủ về tài chính và tổ chức nhân sự ở mức tối đa cho các trưởng nhóm. Xây dựng và kiện toàn hành lang pháp lý, quy trình nội bộ về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong các dự án hợp tác quốc tế, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích Quân đội khi thương mại hóa hoặc chuyển giao các kết quả nghiên cứu dùng chung vào quy trình sản xuất kinh tế, quốc phòng.
Năm là, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ, kiến tạo hệ sinh thái “Đại học thông minh”. Hạ tầng cơ sở vật chất, đặc biệt là hạ tầng số chính là “bệ phóng” để hiện thực hóa mục tiêu hội nhập. Một môi trường làm việc, học tập thông minh, hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới không chỉ thu hút được các chuyên gia, sinh viên quốc tế đến làm việc mà còn phá vỡ rào cản không gian, thời gian, kết nối Học viện với tri thức toàn cầu. Với nhận thức đó, thời gian tới, Học viện tiếp tục bám sát đề án, kế hoạch, chương trình hợp tác quốc tế đã được phê duyệt, tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng theo mô hình đại học thông minh. Trọng tâm là, ưu tiên xây dựng hệ sinh thái học thuật số hiện đại, trong đó tập trung đầu tư, mua quyền truy cập, kết nối liên thông thư viện Học viện với các hệ thống cơ sở dữ liệu học thuật lớn nhất toàn cầu, như: Web of Science, Scopus, IEEE Xplore, ScienceDirect. Triển khai xây dựng các khu liên hợp phòng học thông minh, giảng đường tương tác đa phương tiện và hệ thống hội trường trực tuyến tích hợp công nghệ truyền dẫn bảo mật chuẩn quân sự, làm nền tảng để tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế thường niên, các seminar chuyên đề xuyên biên giới. Mạnh dạn đầu tư các hệ thống mô phỏng, công nghệ thực tế ảo và thực tế hỗn hợp, cho phép học viên huấn luyện, tháo lắp và vận hành các loại vũ khí, trang bị tiên tiến của đối tác nước ngoài ngay trên không gian ảo trước khi tiếp nhận chuyển giao khí tài thật, vừa đảm bảo tính trực quan sinh động, vừa tiết kiệm hàng triệu USD chi phí vận hành và khấu hao thiết bị.
Với định hướng đúng đắn và nền tảng vững chắc, Học viện Kỹ thuật quân sự tiếp tục đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp hợp tác quốc tế nêu trên, góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, làm chủ các công nghệ chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thiếu tướng, GS, TS. TRẦN XUÂN NAM, Phó Giám đốc Học viện __________________________
1 - Giai đoạn 1: học viên được đào tạo nền tảng tại Học viện; giai đoạn 2: học viên tiếp tục học tập tại các học viện và trường đại học uy tín của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
2 - Đến nay, Học viện đã thiết lập mạng lưới hợp tác với hơn 300 đối tác tại gần 40 quốc gia, ký kết và triển khai gần 50 văn bản hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới. Tính riêng trong giai đoạn 2006 - 2026, đã có hơn 1.500 lượt cán bộ, giảng viên được cử đi học tập, nghiên cứu và trao đổi học thuật ở nước ngoài; hơn 2.500 lượt chuyên gia quốc tế đến giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại Học viện và hơn 3.000 công bố của giảng viên, nghiên cứu viên được đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội nghị thuộc cơ sở dữ liệu Scopus. Học viện cũng đồng thời phát triển nhiều chương trình đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ với các đối tác nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực nội sinh, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và vị thế quốc tế của Nhà trường.
Học viện Kỹ thuật quân sự,hội nhập,nâng tầm,hợp tác quốc tế,trung tâm đào tạo,nghiên cứu khoa học,đổi mới sáng tạo
Đổi mới tư duy, tích cực, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quân đội thời kỳ mới 28/09/2026
Học viện Chính trị xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới 21/09/2026
Tỉnh Cao Bằng quyết liệt triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ 17/09/2026
Phát huy giá trị lịch sử của Đường Hồ Chí Minh trên biển trong xây dựng Vùng 2 Hải quân vững mạnh 16/09/2026
Tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng 16/09/2026
Vùng Cảnh sát biển 2 quán triệt, thực hiện “2 kiên định” 14/09/2026
Xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc “5 vững” 07/09/2026
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy mạnh thực hiện công tác quốc phòng, quân sự 28/08/2026
Binh chủng Hóa học đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số 26/08/2026
Trường Sĩ quan Lục quân 2 đột phá, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo 24/08/2026
Xây dựng Binh chủng Thông tin liên lạc “5 vững”
Tỉnh Cao Bằng quyết liệt triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
Vùng Cảnh sát biển 2 quán triệt, thực hiện “2 kiên định”
Phát huy giá trị lịch sử của Đường Hồ Chí Minh trên biển trong xây dựng Vùng 2 Hải quân vững mạnh
Tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng
Học viện Chính trị xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới
Đổi mới tư duy, tích cực, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quân đội thời kỳ mới
Học viện Kỹ thuật quân sự chủ động hội nhập, nâng tầm hợp tác quốc tế