QPTD -Thứ Hai, 26/10/2026, 13:05 (GMT+7)
Phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại là chủ trương chiến lược của Đảng, đòi hỏi phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước. Trong đó, xây dựng và phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân là nội dung có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng để xây dựng tiềm lực, thế trận và năng lực bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, nâng cao sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. 

Hậu cần toàn dân được hình thành từ tư tưởng dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; được phát triển trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng. Về bản chất, hậu cần toàn dân là sự cụ thể hóa quan điểm phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện trong lĩnh vực bảo đảm quốc phòng; phản ánh quá trình chuẩn bị, tổ chức, huy động và chuyển hóa các nguồn lực hậu cần của toàn dân, của cả nước thành tiềm lực, thế trận và năng lực bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Mỗi khi có thiên tai, quân và dân lại chung tay giúp đỡ, cứu trợ bà con ở vùng bị thiệt hại nặng. Nguồn: qdnd.vn

Sức mạnh của hậu cần toàn dân được hình thành từ tiềm lực tổng hợp của quốc gia, trước hết là nguồn lực con người và các tiềm lực về kinh tế, khoa học, công nghệ, kết cấu hạ tầng, giao thông, logistics, y tế, công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, thông tin, dự trữ quốc gia và các nguồn lực vật chất, tinh thần của xã hội. Những nguồn lực đó được tạo lập, tích lũy trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước; song tự thân nguồn lực chưa đồng nhất với sức mạnh bảo đảm quốc phòng. Nó chỉ trở thành sức mạnh bảo đảm quốc phòng khi được nhận diện đầy đủ, quy hoạch có hệ thống, chuẩn bị từ sớm, tổ chức chặt chẽ và huy động, phân bổ, sử dụng bằng cơ chế phù hợp. Vì vậy, sức mạnh của hậu cần toàn dân không đơn thuần đo bằng quy mô nguồn lực, mà quan trọng hơn là ở năng lực tổ chức, chuyển hóa tiềm lực quốc gia thành sức mạnh bảo đảm hậu cần, kỹ thuật khi có tình huống. Trong quá trình đó, hậu cần - kỹ thuật Quân đội giữ vai trò nòng cốt. Vai trò nòng cốt không đồng nghĩa với làm thay chức năng của các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các chủ thể trong xã hội, mà trước hết thể hiện ở năng lực tham mưu, hướng dẫn chuẩn bị, xây dựng phương án, tổ chức hiệp đồng, kết nối các nguồn lực, tiếp nhận, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa tiềm lực hậu cần của toàn dân, của cả nước với năng lực tổ chức bảo đảm của Quân đội: nguồn lực quốc gia là nền tảng vật chất và điều kiện cần; hậu cần - kỹ thuật Quân đội giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức, điều phối, kết nối và chuyển hóa các nguồn lực đó thành năng lực bảo đảm cụ thể, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng điều kiện, tình huống.

Thực tiễn lịch sử đã kiểm chứng sâu sắc mối quan hệ đó. Từ huy động sức người, sức của phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, đến tổ chức tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sức mạnh hậu cần, kỹ thuật luôn được tạo nên bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa năng lực tổ chức bảo đảm của Quân đội với sức mạnh của hậu phương, của các ngành, địa phương và Nhân dân. Qua đó cho thấy, giá trị có tính quy luật không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực có thể huy động, mà quan trọng hơn ở năng lực tổ chức, quy tụ, liên kết và điều phối các nguồn lực; biết kết hợp tiềm lực của quốc gia với năng lực bảo đảm của Quân đội để chuyển hóa sức mạnh của toàn dân, của cả nước thành sức mạnh hậu cần, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục phát triển tư duy, hoàn thiện cơ chế và đổi mới phương thức xây dựng, phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân trong điều kiện mới.

Quán triệt và cụ thể hóa đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, những năm qua, nhận thức và tổ chức huy động nguồn lực quốc gia cho nhiệm vụ quốc phòng tiếp tục có bước phát triển. Tiềm lực, thế trận hậu cần, kỹ thuật của nền quốc phòng toàn dân được củng cố, phát triển; cơ chế huy động, phối hợp và phát huy nguồn lực của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội ngày càng hoàn thiện. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh được chú trọng. Các nguồn lực về giao thông, y tế, công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, logistics, dự trữ quốc gia,... được gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng. Hậu cần khu vực phòng thủ, hậu cần tại chỗ được quan tâm xây dựng; cơ chế phối hợp giữa Quân đội với các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và Nhân dân trong huy động nhân lực, vật lực ngày càng chặt chẽ. Vai trò nòng cốt của hậu cần - kỹ thuật Quân đội tiếp tục được phát huy. Đặc biệt, việc tổ chức lại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật tăng cường tính thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức bảo đảm. Qua đó, nguồn lực hậu cần, kỹ thuật của toàn dân, của cả nước từng bước được kết nối với tiềm lực, thế trận quốc phòng, tạo cơ sở quan trọng để nâng cao khả năng huy động, điều phối và chuyển hóa thành sức mạnh bảo đảm khi có tình huống.

Tuy nhiên, việc xây dựng và phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Nhận thức về nội hàm, chủ thể, lực lượng và phương thức vận hành của hậu cần toàn dân chưa thật thống nhất; tư duy về huy động nguồn lực còn thiên về xử lý khi có tình huống; cơ chế phối hợp, kết nối và chuyển hóa nguồn lực hiệu quả chưa cao; việc gắn quy hoạch, kết cấu hạ tầng và nguồn lực kinh tế - xã hội với xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần, kỹ thuật có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Năng lực nắm, dự báo, quản lý nguồn lực; cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và huy động nguồn lực chưa thật sự liên thông; chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển logistics quốc phòng còn những mặt hạn chế.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới đặt ra mục tiêu, yêu cầu rất cao. Những biến động phức tạp của môi trường chiến lược, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và phương thức tiến hành chiến tranh đang làm thay đổi quy mô, cơ cấu và yêu cầu bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Trong khi đó, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước sau 40 năm đổi mới ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiềm lực và nguồn lực mới cho sự nghiệp quốc phòng.

Thực tế đó vừa tạo điều kiện thuận lợi, vừa đặt ra yêu cầu mới đối với xây dựng và phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân. Vấn đề cốt lõi là cần đổi mới tư duy về xây dựng, phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân. Đó không chỉ là tạo lập tiềm lực, mà quan trọng hơn phải tổ chức, kết nối, chuyển hóa nhanh, hiệu quả tiềm lực, nguồn lực của toàn dân, của cả nước thành sức mạnh bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; đồng thời, phát huy tốt vai trò nòng cốt của hậu cần - kỹ thuật Quân đội. Vì vậy, để phát huy sức mạnh của hậu cần toàn dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng, phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên quyết để củng cố nền tảng chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt công tác dân vận, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố niềm tin, sự đồng thuận và trách nhiệm của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là nền tảng chính trị - tinh thần quan trọng để quy tụ, khơi dậy, huy động sức người, sức của, các nguồn lực của toàn dân, của cả nước trong xây dựng hậu cần toàn dân.

Thủ trưởng Học viện Hậu cần kiểm tra diễn tập, trao đổi với cán bộ, học viên về công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Nguồn: qdnd.vn

Trên nền tảng đó, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng hậu cần toàn dân theo hướng thống nhất về chủ trương, đồng bộ về cơ chế, chặt chẽ về tổ chức và chủ động trong chuẩn bị; gắn xây dựng hậu cần toàn dân với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Kịp thời rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, kế hoạch, phương án huy động nguồn lực phù hợp với tổ chức bộ máy và địa giới hành chính mới, bảo đảm liên tục, thống nhất, không để gián đoạn. Đồng thời, phát huy hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, xác định rõ trách nhiệm của các ban, bộ, ngành, địa phương, Quân đội và toàn xã hội trong xây dựng, phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân. Qua đó, đưa xây dựng hậu cần toàn dân trở thành một nội dung được xác định ngay trong quá trình hoạch định chủ trương, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý đồng bộ để phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân. Tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ đường lối, chủ trương của Đảng về quân sự, quốc phòng; rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế phối hợp về xây dựng hậu cần toàn dân, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Trọng tâm là hoàn thiện các quy định về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, Quân đội và các chủ thể liên quan trong tạo lập, quản lý, huy động, tiếp nhận, điều phối, sử dụng nguồn lực hậu cần, kỹ thuật; tạo cơ sở pháp lý để chuyển hóa kịp thời các tiềm lực thành nguồn lực phục vụ quốc phòng khi có tình huống.

Cùng với đó, chủ động nghiên cứu, thiết lập và hoàn thiện khung pháp lý đối với các lĩnh vực mới, không gian chiến lược mới và phương thức bảo đảm hậu cần, kỹ thuật mới, nhất là huy động nguồn lực công nghệ, hạ tầng số, logistics, dữ liệu và các cơ sở lưỡng dụng phục vụ quốc phòng. Trong điều kiện chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, khung pháp lý không những đáp ứng yêu cầu quản lý nguồn lực hiện có, mà phải tạo cơ sở cho việc kết nối, chia sẻ, điều phối và chuyển hóa các nguồn lực mới thành năng lực bảo đảm. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý đủ rõ về trách nhiệm, đủ linh hoạt về phương thức, đủ mạnh về khả năng điều phối để quy tụ, huy động và phát huy hiệu quả nguồn lực của toàn dân, của cả nước cho xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần toàn dân vững mạnh gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc. Đây là nội dung trực tiếp tạo nền tảng vật chất và thế bố trí để phát huy nguồn sức mạnh nội sinh của hậu cần toàn dân. Theo đó, phải chủ động xây dựng tiềm lực hậu cần, kỹ thuật ngay từ thời bình, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thế bố trí chiến lược, thế trận quốc phòng toàn dân và xây dựng khu vực phòng thủ; kết hợp chặt chẽ nguồn lực tại chỗ với nguồn lực cơ động, hậu cần chiến lược với hậu cần chiến dịch, hậu cần khu vực phòng thủ, tạo thế bảo đảm rộng khắp, liên hoàn, có chiều sâu và khả năng thích ứng cao. Tập trung quy hoạch, xây dựng hệ thống căn cứ, kho, trạm, cơ sở bảo đảm và dự trữ hậu cần, kỹ thuật; đồng thời, phát huy hiệu quả lưỡng dụng của hệ thống giao thông, y tế, công nghiệp, năng lượng, thông tin, logistics trên từng địa bàn, nhất là các hướng chiến lược, biên giới, biển, đảo và khu vực trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Trong quy hoạch và đầu tư phát triển cần tính toán đồng bộ yêu cầu bảo đảm quốc phòng, chú trọng khả năng phân tán, cơ động, dự phòng, chuyển đổi công năng và duy trì hoạt động trong điều kiện bị chia cắt, gián đoạn. Gắn xây dựng tiềm lực thường xuyên với chuẩn bị các nguồn lực có thể huy động khi chuyển trạng thái quốc phòng. Đồng thời, thường xuyên rà soát, bổ sung phương án bảo đảm; tăng cường luyện tập, diễn tập, kiểm nghiệm khả năng huy động, tiếp nhận, phân phối, sử dụng các nguồn lực. Qua đó, xây dựng thế trận hậu cần toàn dân có chiều sâu, khả năng huy động nhanh, bảo đảm liên tục và sức chống chịu cao, tạo nền tảng để chuyển hóa tiềm lực của toàn dân, của cả nước thành sức mạnh bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong mọi tình huống.

Bốn là, xây dựng ngành Hậu cần - Kỹ thuật Quân đội vững mạnh, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt phát huy sức mạnh hậu cần toàn dân trong thời kỳ mới. Tiếp tục kiện toàn tổ chức lực lượng hậu cần - kỹ thuật theo hướng tinh, gọn, mạnh, đồng bộ, phù hợp với tổ chức Quân đội và phương thức tác chiến hiện đại; nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, nghiên cứu, dự báo, chỉ huy, điều hành và tổ chức bảo đảm. Đổi mới phương thức bảo đảm theo hướng linh hoạt, hiện đại, vững chắc; nâng cao tính cơ động, khả năng tự chủ và sức chống chịu của hệ thống bảo đảm hậu cần, kỹ thuật các cấp. Đồng thời, nâng cao năng lực nắm, quản lý, hướng dẫn chuẩn bị, tổ chức huy động, tiếp nhận, điều phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hậu cần, kỹ thuật của đất nước; tăng cường phối hợp, hiệp đồng với các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong chuẩn bị, tổ chức bảo đảm cho nhiệm vụ thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất của Quân đội. Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng hậu cần quân sự địa phương vững mạnh, làm nòng cốt của hậu cần khu vực phòng thủ trong tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn hậu cần nhân dân và các lực lượng xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần, đảm bảo kết nối, chuyển hóa các nguồn lực tại chỗ thành sức mạnh bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong các trạng thái quốc phòng, qua đó nâng cao vai trò nòng cốt của Ngành trong xây dựng, vận hành hậu cần toàn dân.

Năm là, phát huy nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế nâng cao sức mạnh hậu cần toàn dân. Chú trọng xây dựng nguồn nhân lực hậu cần - kỹ thuật chất lượng cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược, năng lực quản trị và làm chủ công nghệ, nhất là đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng rõ nội hàm, cơ chế vận hành hậu cần toàn dân và vai trò nòng cốt của ngành Hậu cần - Kỹ thuật Quân đội; gắn đào tạo, nghiên cứu với xây dựng, huy động, chuyển hóa nguồn lực quốc gia thành sức mạnh bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong tác chiến hiện đại. Tạo đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý, chỉ huy, điều hành, tổ chức bảo đảm; xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu về tiềm lực hậu cần, kỹ thuật; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa trong dự báo, quản lý, huy động và phân phối nguồn lực. Phát triển logistics quốc phòng gắn với logistics quốc gia, thúc đẩy phát triển công nghệ lưỡng dụng, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, nâng cao khả năng tự chủ nguồn cung, tính linh hoạt và sức chống chịu của hệ thống bảo đảm hậu cần, kỹ thuật.

Cùng với đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng về hậu cần, kỹ thuật; tranh thủ nguồn lực, thành tựu khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, đào tạo, nghiên cứu, để xây dựng, nâng cao tiềm lực, khả năng tự chủ, tự lực, tự cường và sức chống chịu của hậu cần toàn dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Trung tướng, GS. TS. PHAN TÙNG SƠN, Giám đốc Học viện Hậu cần

Ý kiến bạn đọc (0)