Thứ Sáu, 23/01/2026, 11:20 (GMT+7)
Chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Tự chủ chiến lược là năng lực của một quốc gia - dân tộc chủ động hoạch định và hiện thực hóa các quyết sách chiến lược trong những lĩnh vực then chốt như chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm giữ vững quyền tự quyết đối với các vấn đề hệ trọng, không để rơi vào lệ thuộc chiến lược hoặc bị áp đặt trái với lợi ích cốt lõi; đồng thời bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia-dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Tự chủ chiến lược trước hết là tự chủ về tầm nhìn và đường lối, thể hiện ở sự kiên định mục tiêu, con đường phát triển của Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, chủ động lựa chọn chiến lược, sách lược và cách thức hành động phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu trong mọi điều kiện và hoàn cảnh.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu tự chủ được nâng lên tầm tự chủ chiến lược, gắn trực tiếp với mục tiêu và quan điểm chỉ đạo phát triển đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh vấn đề trên như một trục định hướng lớn khi yêu cầu của “đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn”(1). Vì vậy, việc đưa “tự chủ chiến lược” vào chủ đề Đại hội XIV và mục tiêu phát triển phản ánh đột phá quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng: Coi tự chủ là một năng lực chiến lược phải được xây dựng bằng thể chế, kỷ cương, nguồn lực và tổ chức thực hiện đến cùng trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; qua đó, tạo nội lực đủ mạnh để phát triển nhanh, bền vững, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gia tăng, môi trường an ninh biến động nhanh, phức tạp, khó lường đặt ra yêu cầu cao đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình đó, tự chủ chiến lược về quốc phòng trở thành điều kiện tiên quyết để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong bối cảnh “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết, thống nhất, quyết tâm vững bước tiến tới hai mục tiêu chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2045)” (2) lại càng có ý nghĩa chiến lược hơn bao giờ hết. Vì vậy, củng cố và nâng cao tự chủ chiến lược không những là xu thế chung, mà còn là yêu cầu trực tiếp của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là vấn đề lớn, nội hàm rộng, gắn với nhiều lĩnh vực đời sống xã hội của quốc gia và quốc tế; trong đó, tự chủ chiến lược về quốc phòng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, bảo vệ Tổ quốc, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong lĩnh vực quốc phòng, tự chủ chiến lược giúp đất nước giữ vững quyền tự quyết, không bị cuốn vào vòng xoáy đối đầu, liên minh quân sự hay phụ thuộc vào khoa học, công nghệ và các học thuyết quân sự của nước khác.
Tự chủ chiến lược về quốc phòng là khả năng của một quốc gia chủ động hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, phương thức bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng và xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh mà không bị lệ thuộc, chi phối từ bên ngoài. Đây là nội dung quan trọng trong hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vai trò định hướng nền tảng đối với nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong củng cố quốc phòng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, tư duy của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc luôn được bổ sung, phát triển kịp thời theo yêu cầu của từng giai đoạn, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nắm chắc bối cảnh trong nước và quốc tế, bảo đảm vừa kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa chủ động, linh hoạt trong xử lý các tình huống mới. Chính quá trình bổ sung và phát triển đó đã tạo nền tảng để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và cả hệ thống chính trị, củng cố thế và lực quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thực chất của tự chủ chiến lược về quốc phòng là quá trình chuyển từ thế bị động-chỉ thừa nhận và tuân theo “luật chơi” do “người khác” định ra-sang thế chủ động, đủ năng lực cùng các quốc gia, đối tác tham gia kiến tạo, định hình và thực thi các “luật chơi” phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của mình. Từ đó, Việt Nam có thể chủ động nắm tình hình, xử lý quan hệ và điều chỉnh sách lược linh hoạt, bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng và trách nhiệm trong hợp tác quốc phòng, cả trên bình diện song phương và đa phương, qua đó vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, vừa đóng góp thực chất cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới. Vì vậy, tự chủ chiến lược về quốc phòng chính là điều kiện tiên quyết bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.
Về mục đích: Tự chủ chiến lược về quốc phòng trực tiếp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của tiềm lực chính trị, tinh thần, văn hóa, kinh tế, an ninh, đối ngoại và của cả hệ thống chính trị, đặt trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, sức mạnh quân sự giữ vai trò đặc trưng và lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Tự chủ chiến lược về quốc phòng góp phần quan trọng bảo đảm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Về chủ thể và lực lượng: Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo là Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương; chủ thể quản lý, điều hành là Nhà nước, trực tiếp là các ban, bộ, ngành của Trung ương và địa phương. Lực lượng tiến hành là toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.
Về nội dung: Tự chủ chiến lược về quốc phòng của Việt Nam rất toàn diện, được thể hiện trên các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tự chủ chiến lược trong xác định chủ thể lãnh đạo, quản lý quốc phòng. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trong đó có tự chủ chiến lược về quốc phòng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, tính chất toàn dân, toàn diện và sức mạnh của nền quốc phòng Việt Nam; đồng thời, quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, trong mọi tình huống, yêu cầu có tính nguyên tắc là kiên quyết giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, gắn với bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trên nền tảng đó, Nhà nước là chủ thể quản lý tập trung, thống nhất và tổ chức thực hiện quốc phòng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; trực tiếp là các ban, bộ, ngành Trung ương, với nòng cốt là Bộ Quốc phòng, các cơ quan chiến lược và đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược. Nhà nước thực hiện quản lý quốc phòng thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống luật, văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng; xây dựng và triển khai chiến lược, chính sách quốc phòng; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phương án phòng thủ đất nước, kế hoạch động viên quốc phòng và bảo đảm nguồn lực cho hoạt động quốc phòng; tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; mở rộng hợp tác quốc tế về quốc phòng và triển khai các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc. Nói cách khác, tự chủ chiến lược trong xác định chủ thể lãnh đạo, quản lý quốc phòng chính là việc khẳng định và thực thi nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Nhà nước quản lý thống nhất đối với sự nghiệp quốc phòng; không phân tán, không chia sẻ, không để bất kỳ tổ chức, lực lượng hay khâu trung gian nào chi phối quyền lãnh đạo và quản lý đó. Đây vừa là nguyên tắc bất di bất dịch, vừa là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng bảo đảm cho quyền tự chủ chiến lược về quốc phòng của Việt Nam.
Thứ hai, tự chủ chiến lược về chính sách quốc phòng. Trên cơ sở đánh giá đúng điều kiện khách quan và phát huy nhân tố chủ quan, Đảng ta nhất quán xác lập chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc làm điểm tựa xuyên suốt. Điều này được thể hiện trước hết ở khả năng tự mình lựa chọn và kiên định đường lối xử lý các quan hệ quốc phòng, an ninh theo phương thức phù hợp: Kiên quyết, kiên trì giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; không sử dụng vũ lực, không đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, quán triệt phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, đồng thời luôn sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Trong chính sách quốc phòng, việc Việt Nam kiên định “bốn không”(3) là biểu hiện tập trung của tự chủ chiến lược và cũng không phải là sự “tự ràng buộc” thụ động, mà là cách thức tổ chức “thế” và “lực” một cách chủ động: Kết hợp chặt chẽ giữa phòng thủ và răn đe, giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thế ổn định để phát triển và đủ lực bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.
Thứ ba, tự chủ chiến lược về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Sức mạnh quốc phòng của Việt Nam được hình thành và phát triển trên nền tảng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và cả hệ thống chính trị, kết tinh từ tiềm lực chính trị-tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo; mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và hiện đại. Điều này thể hiện ở năng lực của Việt Nam trong tự xác định mô hình, mục tiêu, bước đi và cơ chế huy động-phân bổ nguồn lực, chủ động xây dựng sức mạnh quốc phòng bền vững từ nội sinh, không lệ thuộc vào bất kỳ sự “bảo trợ” nào từ bên ngoài. Theo đó, đòi hỏi phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân”, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, vũ khí, trang bị hiện đại; đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, khoa học, công nghệ, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân được triển khai đồng bộ trên 3 phương diện cơ bản: Tiềm lực, lực lượng và thế trận; trong đó, tiềm lực là nền tảng, lực lượng là nòng cốt tổ chức sức mạnh, còn thế trận là cách bố trí, liên kết và phát huy sức mạnh trên không gian cả nước và từng địa bàn. Về định hướng, Đảng ta khẳng định: “Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng "thế trận lòng dân", xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc”(4).
Thứ tư, tự chủ chiến lược về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng trong xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại với 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với biệt lập hay đóng cửa; ngược lại, trong kỷ nguyên mới, tự chủ phải gắn liền với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, giữ vững lợi ích quốc gia-dân tộc. Tự chủ chiến lược không chỉ là tham gia các hoạt động hợp tác song phương, đa phương, mà quan trọng hơn là năng lực chủ động lựa chọn đối tác, nội dung, mức độ và khuôn khổ hợp tác, tham gia các cơ chế an ninh khu vực và quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; đồng thời, có khả năng cùng các đối tác tham gia định hình quy tắc, cơ chế, chuẩn mực và các sáng kiến về quốc phòng ở khu vực và thế giới, qua đó xây dựng lòng tin, nâng cao năng lực đóng góp thực chất cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Trong bối cảnh cục diện thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, xu hướng phân mảnh, phân tuyến, bảo hộ và áp đặt trong chính sách kinh tế-thương mại có chiều hướng nổi lên, nguy cơ xung đột cục bộ và chạy đua vũ trang có mặt tác động rõ rệt, thì tự chủ chiến lược về đối ngoại quốc phòng chính là cách thức “giữ cho ngoài êm” bằng thế và lực: Giữ vững nguyên tắc, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột; đồng thời góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Nói cách khác, khi tự chủ chiến lược được bảo đảm, Việt Nam có đủ năng lực tự bảo vệ mình từ sớm, từ xa, đồng thời có uy tín, trách nhiệm và tầm ảnh hưởng phù hợp để tham gia gìn giữ hòa bình, ổn định khu vực; qua đó hiện thực hóa yêu cầu cốt lõi của một chiến lược quốc phòng tối ưu: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia-dân tộc, không để đất nước bị đẩy vào nguy cơ chiến tranh, xung đột.
Để giữ vững tự chủ chiến lược về quốc phòng theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới cần quán triệt và thực hiện những định hướng giải pháp chủ yếu sau:
Một là, kiên trì thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong bảo đảm tự chủ chiến lược về quốc phòng.
Tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là phương châm chỉ đạo nhận thức và hành động của Đảng trong giai đoạn 1945-1946 mà còn có giá trị bền vững trong việc xác lập và thực thi tự chủ chiến lược nói chung, tự chủ chiến lược về quốc phòng nói riêng. Quán triệt và vận dụng phương châm này phải nắm vững cái “bất biến” là mục tiêu chiến lược độc lập, thống nhất và lợi ích cốt lõi của quốc gia-dân tộc; đồng thời, phát huy cái “vạn biến” là bản lĩnh vững vàng, quyết đoán, khôn khéo, linh hoạt và kịp thời trong xử lý từng hoàn cảnh, từng tình thế, từng đối tác, đối tượng, trên từng vấn đề cụ thể và trong giới hạn không gian - thời gian xác định. Trong bất kỳ điều kiện nào, tự chủ chiến lược về quốc phòng không được xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhưng cũng không được rơi vào cứng nhắc; phải chủ động, linh hoạt xử lý các tình huống quốc phòng ngày càng phức tạp trong bối cảnh “xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực, nguy hiểm hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh”(5). Trên cơ sở đó, cần định vị chính xác sức mạnh tổng hợp quốc phòng, sức mạnh tổng hợp quốc gia và vị thế quốc tế của Việt Nam không chỉ ở hiện tại mà cả trong trung hạn, dài hạn, để xác định đúng mức độ, phạm vi và phương thức thực hiện tự chủ chiến lược về quốc phòng; đặc biệt, phải chủ động chuẩn bị phương án ứng phó trong những tình huống bất lợi nhất, kể cả khi xuất hiện sức ép “phải chọn bên”, bảo đảm giữ vững nguyên tắc, giữ được lợi ích quốc gia-dân tộc, kiên quyết “chọn lẽ phải” trong mọi quyết sách chiến lược.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng nói chung và tự chủ chiến lược về quốc phòng nói riêng.
Tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược của các ban, bộ, ngành Trung ương, bảo đảm dự báo đúng để tham mưu trúng, chủ động từ sớm, từ xa và không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 4521-NQ/QUTW ngày 19/9/2025 của Quân ủy Trung ương “về nâng cao chất lượng nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, coi đây là nền tảng để chuẩn hóa tư duy, quy trình, lực lượng và cơ chế phối hợp trong tham mưu chiến lược quốc phòng; đồng thời, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng tính liên thông giữa các kênh thông tin, giữa dự báo chiến lược với hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện. Toàn quân cần phải quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về tinh thần “2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa”(6) và phương châm “5 vững”(7) với yêu cầu: “Tăng cường tự chủ chiến lược, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao tính tự chủ, tự lực, tự cường của nền kinh tế, chủ động ứng phó với những biến động bên ngoài”(8). Đây vừa là định hướng hành động, vừa là tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ chiến lược trong điều hành và tổ chức thực hiện, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc để phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tự chủ chiến lược về quốc phòng.
Toàn quân cụ thể hóa nghị quyết đại hội các cấp, các chiến lược về bảo vệ Tổ quốc, chiến lược về quốc phòng, quân sự và quán triệt, thực hiện hiệu quả Kết luận số 231-KL/TW ngày 8/1/2026 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030” vào nghiên cứu tự chủ chiến lược về quốc phòng. Trong đó, tiếp tục nghiên cứu làm rõ vị trí, vai trò và nội hàm của tự chủ chiến lược về quốc phòng, nhất là những đặc trưng mới của kỷ nguyên phát triển mới; đồng thời, đặt vấn đề này trong tổng thể tự chủ chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, đối ngoại... để nhận diện đúng mối quan hệ giữa các lĩnh vực, tránh tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ bất kỳ lĩnh vực nào. Cần thấy rằng mỗi lĩnh vực có đặc thù riêng và trong từng quan hệ cụ thể, vị trí, vai trò của các lĩnh vực không hoàn toàn ngang bằng nhau.
Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu tự chủ chiến lược về kinh tế, chính trị, phải hết sức coi trọng tự chủ chiến lược về quốc phòng như một trụ cột trực tiếp bảo đảm độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình để phát triển bền vững đất nước. Trên cơ sở đó, tổ chức nghiên cứu và thực hiện công tác tham mưu chiến lược về quốc phòng cần bám sát các định hướng về mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn phải cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học giúp cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách để lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ nội dung tự chủ chiến lược về quốc phòng.
Bốn là, tập trung nguồn lực đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng.
Không ngừng củng cố, nâng cao hệ thống và năng lực chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp quốc phòng, nhất là tối ưu hóa mô hình phát triển công nghiệp quốc phòng. Toàn quân quán triệt và thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển công nghiệp quốc phòng, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/1/2022 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; trong đó, phát triển công nghiệp quốc phòng phải tập trung vào các lĩnh vực mới, hiện đại, phù hợp với tổ chức biên chế của Quân đội, với đối tượng tác chiến và thực tế chiến tranh hiện đại. Huy động và tập trung mọi nguồn lực cả trong và ngoài Quân đội để tăng cường đầu tư nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất, cải tiến, hiện đại hóa các chủng loại vũ khí trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược.
Tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển công nghiệp quốc phòng gắn với chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, triển khai thỏa thuận hợp tác với các nước có nền công nghiệp quốc phòng hiện đại để chuyển giao công nghệ; chủ động đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có giá trị và hàm lượng khoa học, công nghệ cao và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, nhất là cơ chế huy động nguồn lực và phát huy sức mạnh tổng hợp của các doanh nghiệp ngoài Quân đội trong nghiên cứu sản xuất, cung ứng các trang thiết bị quốc phòng hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp và vai trò nòng cốt của cơ quan tham mưu chiến lược và đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu chiến lược về quốc phòng.
Suy đến cùng, tự chủ chiến lược được quyết định chủ yếu bởi nhân tố chủ quan, trên cơ sở nhận thức đúng và vận dụng đúng các quy luật khách quan; vì vậy, phải tập trung xây dựng cơ quan tham mưu chiến lược vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, thực sự là trung tâm tổng hợp, phân tích, dự báo và tham mưu các quyết sách quốc phòng ở tầm chiến lược. Cùng với đó, đặc biệt coi trọng xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược về quốc phòng theo hướng chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ, có tư duy chiến lược, năng lực dự báo, bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng phối hợp liên ngành, liên lĩnh vực; xem đây là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả tham mưu, bảo đảm các quyết sách quốc phòng đúng, kịp thời, khả thi và giữ vững tự chủ chiến lược về quốc phòng trong kỷ nguyên phát triển mới. Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu giữa các cơ quan cấp chiến lược của các ban, bộ, ngành của Trung ương gắn với tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tham mưu chiến lược. Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu chiến lược về quốc phòng không ngừng tự trau dồi đạo đức cách mạng, năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời làm nòng cốt xây dựng cơ quan tham mưu chiến lược vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu.
Đất nước ta bắt đầu bước vào “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(9). Đây là sự nghiệp vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; vì vậy, tự chủ chiến lược toàn diện, trong đó, tự chủ chiến lược về quốc phòng là điều kiện tiên quyết, mang tính sống còn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó không chỉ là yêu cầu mang tính cấp bách trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài, thể hiện bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ và khát vọng độc lập, tự cường của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Đại tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam
------------
(1), (2) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày
(3) Bốn không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam, “Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Hà Nội, ngày 14/10/2025, tr.34; tr.17
(6) Hai kiên định: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Hai đẩy mạnh: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Hai ngăn ngừa: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân.
(7) Năm vững: “Chính trị vững-kỷ luật vững-công nghệ vững-nghệ thuật quân sự vững-đời sống bộ đội vững”.
(8) Báo Điện tử Chính phủ, ngày 11/1/2026.
(9) GS, TS Tô Lâm, “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 1/11/2024.
Nguồn: qdnd.vn
Tự chủ chiến lược,quốc phòng,điều kiện tiên quyết,kỷ nguyên mới,lợi ích cốt lõi,hội nhập quốc tế
Danh sách 200 đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV 23/01/2026
Tổng Bí thư Tô Lâm dự phiên thảo luận tại Đoàn đại biểu Đảng bộ Quân đội 21/01/2026
Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại Đại hội 21/01/2026
Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam 20/01/2026
Dư luận quốc tế về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: Bước ngoặt quan trọng định hình tầm nhìn chiến lược phát triển 20/01/2026
Phiên trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng 20/01/2026
Quân đội vinh dự có 99 đồng chí được tham dự Đại hội lần thứ XIV của Đảng 19/01/2026
Đẩy mạnh xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới 19/01/2026
Xây dựng Đảng bộ Quân đội mẫu mực, tiêu biểu, ngang tầm nhiệm vụ 18/01/2026
Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng 16/01/2026
Những đổi mới cốt lõi về tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV
Khai trương Trung tâm Báo chí và Họp báo quốc tế về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng
Đại tướng Nguyễn Tân Cương kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đại hội XIV của Đảng
Sự phát triển tư duy chiến lược về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Bài 1: Ý nghĩa và những dấu ấn lịch sử của đổi mới tư duy đối ngoại
Bài 3: Đối ngoại kinh tế - động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước
Bài 5: Đối ngoại quốc phòng - trụ cột quan trọng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Tiếp theo và hết)