Thứ Tư, 10/06/2026, 05:52 (GMT+7)
Ấn phẩm tạp chí in
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam không ngừng phát triển, biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu thành phần. Sự biến đổi ấy diễn ra liên tục, mạnh mẽ, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập kinh tế quốc tế.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Sự nghiệp CNH, HĐH gắn liền với sự phát triển của kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh nhằm tạo ra nền tảng để đến 2020, Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo đó, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp; đồng thời, trình độ học vấn và chuyên môn của các giai tầng xã hội nói chung và GCCN nói riêng ngày càng được nâng cao.
Đặt trong xu thế chung đó, GCCN Việt Nam sẽ phát triển theo chiều hướng cơ bản như sau:
Một là, số lượng GCCN tiếp tục phát triển nhanh. Theo mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ trọng trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước ta vào năm 2010: nông nghiệp là 15%-16%; công nghiệp và xây dựng là 43% - 44%; dịch vụ là 40% - 41%1. Theo số liệu điều tra dân số của Tổng cục Thống kê (tính đến 01-4-2009), dân số nước ta có 85.789.573 người, trong đó có 47.743.000 lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Số công nhân, lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp (kể cả một số lĩnh vực sản xuất và chế biến nông - lâm - thuỷ sản được công nghiệp hoá) khoảng từ 14 triệu đến 15 triệu người, tăng hơn 5 triệu người so với năm 2005. Năm 2009, lao động làm công ăn lương ở nước ta chiếm khoảng 27,5% lực lượng lao động có việc làm (khoảng 12,8 triệu người); trong đó, đội ngũ công nhân có khoảng 9,5 triệu người. Dự báo đến năm 2020, lao động làm công ăn lương sẽ chiếm khoảng 50% lực lượng lao động có việc làm (27,5 triệu người); trong đó, GCCN có khoảng 20,5 triệu người.
Hai là, chất lượng GCCN không ngừng được nâng lên. Biểu hiện rõ nhất là quá trình trí thức hoá công nhân đang diễn ra, nhất là trong lớp công nhân trẻ. Theo kết quả điều tra, hiện nay, công nhân trong các doanh nghiệp có trình độ văn hoá khá cao (100% biết chữ, 80% có trình độ trung học cơ sở và trung học phổ thông); lao động ở nước ta có 37% qua đào tạo, trong đó 25% đã qua đào tạo nghề. Nhờ đó, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân ngày càng được nâng cao. Điều này được quyết định bởi ba nhân tố cơ bản: trước hết, đó là yêu cầu ngày càng gia tăng của việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá rút ngắn theo hướng hiện đại và đi nhanh hơn vào kinh tế tri thức mà Đảng đã đề ra. Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục-đào tạo, làm cho chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được nâng lên. Thứ ba, thực tiễn yêu cầu mỗi người công nhân phải không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, mới có việc làm ổn định và có thu nhập xứng đáng.
Dự báo: xu hướng trí thức hoá công nhân sẽ ngày càng mạnh lên ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020; đây là kết quả của việc thực hiện có hiệu quả quốc sách giáo dục-đào tạo ở nước ta, nhất là việc mở rộng đào tạo tay nghề cho thanh niên. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có thể đạt 55% (khoảng 31,4 triệu người), trong đó cao đẳng nghề, trung cấp nghề chiếm khoảng 20%-25%. Bộ phận công nhân có trình độ đại học (thực chất là công nhân-trí thức) ngày càng tăng. Xu hướng hình thành đội ngũ công nhân-trí thức ngày càng rõ và phát triển (dự báo chiếm khoảng 7% - 10% trong tổng số lao động kỹ thuật), tập trung ở một số ngành kinh tế mũi nhọn, trong các doanh nghiệp hiện đại có công nghệ cao và tự động hoá, các khu công nghệ cao... Tỷ lệ công nhân lao động có trình độ học vấn, tay nghề thấp giảm mạnh; tỷ trọng công nhân lao động có trình độ học vấn và tay nghề khá ngày càng tăng lên. Đặc biệt, tỷ lệ công nhân trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn từ cao đẳng, đại học trở lên tăng nhanh và sẽ chiếm khoảng 35 - 40% tổng số công nhân vào năm 2020. Cùng với sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ hiện đại, áp dụng kỹ thuật và công nghệ cao, tác phong công nghiệp, văn hoá nghề, kỷ cương, kỷ luật lao động, khả năng thích nghi trong môi trường đa văn hoá, đa sắc tộc... của công nhân sẽ ngày càng tăng; ý thức hệ giai cấp, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tinh thần yêu nước,... càng được củng cố và tăng cường.
Ba là, cơ cấu theo thành phần kinh tế và cơ cấu nghề nghiệp của GCCN có sự biến đổi mạnh mẽ, đa dạng. Bởi lẽ, quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước sẽ làm xuất hiện nhiều doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài...; đồng thời, các ngành công nghiệp truyền thống sẽ giảm xuống, các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp mới (bao gồm các ngành công nghệ cao) tăng lên.
Xét về cơ cấu theo thành phần kinh tế: tỷ trọng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước sẽ còn giảm, do quá trình cổ phần hoá tiếp tục được đẩy mạnh. Trong khi đó, tỷ trọng công nhân trong các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng nhanh; tỷ trọng công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tăng không nhiều, mặc dầu quy mô và số lượng vẫn tiếp tục gia tăng.
Xét về cơ cấu theo ngành nghề: tỷ trọng công nhân làm việc trong các ngành khai thác tài nguyên không tái tạo ngày càng giảm. Tỷ trọng công nhân trong một số ngành gia công, lắp ráp có xu hướng chững lại. Tỷ trọng công nhân trong các ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, dịch vụ công nghiệp, nhất là dịch vụ thông tin,... sẽ phát triển nhanh. Theo đó, đội ngũ công nhân sẽ tập trung chủ yếu trong các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, nhất là 3 vùng kinh tế trọng điểm (khoảng 60%). Tuy nhiên, nếu điều chỉnh chiến lược tăng trưởng theo hướng phi tập trung, điều chỉnh chiến lược đô thị hoá theo hướng trải rộng trên phạm vi cả nước, thì xu hướng phân bố và chuyển dịch phi tập trung GCCN sẽ nổi trội.
Do đặc điểm 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên tỷ lệ công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 80% - 85%. Tuy nhiên, với xu hướng chung là hình thành các tập đoàn kinh tế lớn, có quy mô lao động lớn, sẽ làm cho tỷ lệ công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong trung và dài hạn. Trong quá trình tham gia vào thị trường lao động quốc tế thông qua xuất khẩu lao động, đầu tư ra nước ngoài,... sẽ có một bộ phận công nhân Việt Nam thường xuyên làm việc ở nước ngoài. Bởi theo dự báo, mỗi năm Việt Nam sẽ đưa khoảng 10.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài; do đó, số lao động nước ta thường xuyên làm việc ở nước ngoài sẽ vào khoảng 1 - 1,5 triệu người (vào năm 2020). Với sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới, xu hướng công nhân chuyển dịch sang các ngành thiết kế, tư vấn, marketing, phân phối sản phẩm trong hệ thống mạng phân phối toàn cầu... ngày càng tăng; công nhân trong các ngành công nghiệp then chốt, ứng dụng công nghệ hiện đại, như: năng lượng, công nghệ thông tin, điện tử, hoá dầu, vật liệu mới, xây dựng, dịch vụ cao cấp, công nghiệp chế biến, (kể cả chế biến nông sản), các hoạt động dịch vụ xã hội, cộng đồng, cá nhân,... cũng sẽ tăng lên.
Bốn là, sẽ diễn ra sự phân tầng trong nội bộ GCCN Việt Nam. Điều này biểu hiện trên tất cả các phương diện, từ trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp, mức thu nhập cho đến quyền sở hữu tài sản... Nếu xét về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, trong GCCN sẽ hình thành các tầng lớp công nhân trí thức, tầng lớp giám đốc, kỹ thuật, đốc công, quản lý,...Bên cạnh đó, sẽ có sự phân tầng về thu nhập, trong đó chủ yếu là lương, thưởng và mặt hưởng thụ. Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến sự chênh lệch khá lớn, có khi đến hàng chục lần về thu nhập của các bộ phận khác nhau trong GCCN; điều này không chỉ thuộc các ngành kinh tế khác nhau, mà là của cả tầng lớp công nhân khác nhau trong cùng một ngành kinh tế. Mặc dù có những sự chênh lệch và khác biệt như vậy, nhưng xu hướng trí tuệ hoá, tri thức hoá GCCN sẽ là xu hướng tất yếu khi đất nước đẩy mạnh CNH,HĐH, phát triển kinh tế tri thức. Sự phân tầng trong công nhân còn do quyền sở hữu và mức độ sở hữu tài sản khác nhau trong thực tế; do có hay không có tài sản hoặc nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế hoặc các lĩnh vực hoạt động khác nhau (sản xuất, kinh doanh, chứng khoán, tiết kiệm ngân hàng, v.v.) quyết định.
Hệ quả dễ thấy của sự phân tầng trên đây là xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích, là khoảng cách giàu nghèo trong nội bộ GCCN, là sự không đồng nhất về nhiều mặt. Sự gia nhập GCCN của số đông lao động từ nông thôn sẽ làm cho GCCN không thuần nhất về thành phần xuất thân, không đồng đều về trình độ giác ngộ chính trị, không giữ được sự thống nhất cao về tư tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp... như khi GCCN chủ yếu có mặt trong các doanh nghiệp nhà nước, khi nhà máy, xí nghiệp còn thuộc sở hữu toàn dân trước đây. Tầng lớp công nhân mới xuất thân từ nông dân này cũng như tầng lớp công nhân chủ yếu làm lao động giản đơn sẽ là tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi nhất, là những người yếu thế nhất. Bên cạnh tầng lớp đó, sẽ hình thành những tầng lớp có thu nhập cao, thậm chí rất cao. Một khi đã diễn ra sự phân tầng, đã hình thành các tầng lớp khác nhau trong nội bộ GCCN thì không tránh khỏi sẽ có những lợi ích khác nhau. Sự khác nhau này sẽ đẻ ra không ít những vấn đề về tư tưởng, nhận thức và ý thức tổ chức... làm giảm sức mạnh đoàn kết của GCCN. Vì vậy, xây dựng GCCN thống nhất là vấn đề lớn và phức tạp trong điều kiện mới.
Năm là, tính di động xã hội của GCCN, tranh chấp lao động và đình công có xu hướng tăng. Sự di động xã hội không chỉ diễn ra trên bình diện không gian, do sự phát triển không đồng đều về kinh tế-xã hội của các vùng, các địa phương trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước; mà còn thể hiện ở chỗ thay đổi vị trí, chức năng nghề nghiệp của người công nhân. Do thị trường lao động ở Việt Nam phát triển không đồng đều, bị phân lớp lớn, nên nguyên tắc cạnh tranh của thị trường lao động tạo ra xu hướng công nhân sẽ thay đổi nơi làm việc, sự di chuyển và biến động công nhân giữa các vùng, các loại hình doanh nghiệp và các ngành nghề; tranh chấp lao động và đình công cũng có xu hướng tăng,... Do đó, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ là vấn đề có tính chiến lược lâu dài và là một trong những nhiệm vụ quan trọng cấp bách của chiến lược xây dựng GCCN trong thời kỳ mới. Thực tế cho thấy, xu hướng cạnh tranh trên thị trường trong nước ngày càng quyết liệt; đồng thời, nền kinh tế thường xuyên phải đối mặt với những cú sốc từ bên ngoài, trước hết là khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu, biến động giá cả thế giới, tranh chấp thương mại quốc tế... sẽ dẫn đến nguy cơ bị mất việc, thất nghiệp và áp lực việc làm rất lớn trong công nhân. Trong đó, lao động có trình độ thấp, công nhân lớn tuổi và lao động nhập cư từ nông thôn có nguy cơ cao nhất.
Trước những xu hướng vận động trên đây, Đảng, Nhà nước phải có những chủ trương, chính sách thích hợp nhằm xây dựng GCCN vững mạnh. Theo đó, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, cấp uỷ, chính quyền, ban, ngành các cấp cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và có kế hoạch cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát triển lý luận về GCCN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở đó, xây dựng chính sách đúng đắn nhằm xây dựng GCCN Việt Nam vững mạnh, phát triển về số lượng, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Thứ hai, các cấp cần quy hoạch lại hệ thống trường dạy nghề, từng bước trí thức hoá GCCN. Đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong xây dựng GCCN để đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH đất nước.
Thứ ba, tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho công nhân. Cùng với đó, Nhà nước cần đầu tư thích đáng và có chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư (được tính vào chi phí sản xuất) xây dựng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà văn hoá lao động, nhà văn hoá thanh niên, câu lạc bộ công nhân, hệ thống truyền thông đại chúng, nơi sinh hoạt của tổ chức đảng, tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên... ở các khu công nghiệp tập trung.
Thứ tư, bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của công nhân bằng những việc làm, chế độ, chính sách cụ thể, thiết thực.
Thứ năm, xây dựng, thực hiện, đồng thời coi trọng tổ chức kiểm tra, đánh giá các chính sách tạo động lực phát triển cho công nhân và lao động trong nền kinh tế thị trường. Trong đó, đặc biệt chú trọng bảo đảm tốt các chính sách về: việc làm, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phúc lợi xã hội, tôn vinh những người lao động giỏi, bán cổ phần cho công nhân trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.
Đại tá, PGS,TS. BÙI ĐÌNH BÔN
Hội đồng Lý luận Trung ương
________
1- ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 188.
Trao đổi ý kiến giữa Tạp chí quốc phòng toàn dân với bạn đọc, cộng tác viên Quân khu 5 12/12/2011
Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng quân sự trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc 12/12/2011
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay 12/12/2011
Một số vấn đề về nghệ thuật chiến dịch phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 12/12/2011
Hưng Yên không ngừng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng 12/12/2011
Kết quả và kinh nghiệm tiến hành công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng vũ trang Quân khu 5 12/12/2011
Đoàn B.90 nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng dự bị động viên - một số kinh nghiệm bước đầu 12/12/2011
Trường Quân sự Binh đoàn Cửu Long phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và huấn luyện 11/12/2011
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh ven biển Thái Bình 11/12/2011
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phát huy nội lực, mở rộng hợp tác, nâng cao hiệu quả hoạt động 11/12/2011