Chủ Nhật, 08/02/2026, 08:33 (GMT+7)
Ấn phẩm tạp chí in
Đoàn B.02, Quân khu 7 đứng chân trên địa bàn hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa- Vũng Tàu, thuộc khu tứ giác kinh tế năng động của cả nước, có vị trí chiến lược trong thế phòng thủ của Quân khu. Nhiệm vụ trọng tâm của Đoàn là huấn luyện, nâng cao trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), trọng điểm là xây dựng, quản lý và huấn luyện lực lượng dự bị động viên (DBĐV) trên địa bàn 8 huyện và một thành phố thuộc tỉnh Đồng Nai. Cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ- Bộ Tư lệnh Quân khu và các cơ quan chức năng, Đoàn B02 còn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai và các huyện giao nguồn. Vì vậy, công tác tổ chức, xây dựng lực lượng DBĐV của Đoàn từ năm 2001 đến nay được thực hiện có nền nếp, tích cực, toàn diện. Công tác thâm nhập, phúc tra, nắm nguồn và sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ các cấp theo chức danh được coi trọng… tỷ lệ đúng chuyên nghiệp quân sự trong lực lượng DBĐV ngày càng được nâng lên. Số quân động viên huấn luyện, diễn tập và SSCĐ đã tăng từ 82,21% (năm 2001) lên 94,77% (2006) so với chỉ tiêu được giao, chất lượng huấn luyện, diễn tập có nhiều tiến bộ; các đơn vị DBĐV ổn định về tổ chức, biên chế, hoạt động hiệu quả.
Tuy nhiên, nhiệm vụ xây dựng, quản lý, huấn luyện lực lượng DBĐV của Đoàn cũng đang phải đối mặt với những khó khăn về nguồn động viên, nhất là nguồn cán bộ (khung B), nguồn binh chủng, chuyên môn kỹ thuật, thao trường, bãi tập, cơ sở vật chất... Vùng động viên của Đoàn có nhiều địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào có đạo; mật độ dân cư thưa thớt, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, quân dự bị thường làm trong các doanh nghiệp tư nhân, hoặc đi làm ăn xa nên số quân động viên luôn biến động, ảnh hưởng đến công tác xây dựng và quản lý nguồn động viên của Đoàn. Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, thì những khó khăn, thách thức trên có xu hướng ngày càng tăng lên. Vì vậy, công tác xây dựng lực lượng DBĐV của Đoàn cần phải có những giải pháp đồng bộ, phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị và tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, bảo đảm sẵn sàng động viên thực hiện tốt công tác huấn luyện, SSCĐ theo yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
Trong xây dựng lực lượng DBĐV, Đảng uỷ, chỉ huy Đoàn tập trung trước hết vào việc xây dựng các đơn vị khung thường trực (khung A), trọng tâm là đội ngũ cán bộ khung thường trực các cấp. Cùng với việc kiện toàn, củng cố tổ chức biên chế các đơn vị khung thường trực, Đoàn tập trung xây dựng các cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị khung thường trực nhận thức đúng về vị trí, vai trò của công tác DBĐV để từng người, từng đơn vị xác định rõ trách nhiệm, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Thường xuyên quán triệt các chỉ thị của Bộ, của Quân khu về xây dựng, quản lý, huấn luyện lực lượng DBĐV cho cấp uỷ, chỉ huy các cấp; đưa nội dung Pháp lệnh về lực lượng DBĐV, Chỉ thị 16/CT- TW của Ban Bí thư, Quyết định số 40 của Thường vụ Đảng uỷ Quân khu vào chương trình huấn luyện hằng năm cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, nhằm nâng cao kiến thức, năng lực và công tác chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ thành thạo về quy trình các bước động viên, soạn thảo kế hoạch tiếp nhận lực lượng DBĐV, phương pháp phân loại chuyên nghiệp quân sự, điều chỉnh sắp xếp tổ chức biên chế các đơn vị DBĐV. Hằng năm, Đoàn tiến hành rà soát, quy hoạch đội ngũ cán bộ các cấp, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng cán bộ. Đội ngũ cán bộ khung thường trực còn được luân phiên cử đi học ở các trường để nâng cao trình độ, năng lực và kiến thức mới về khoa học kỹ thuật quân sự. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị khung thường trực chú trọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Duy trì nghiêm các chế độ học tập, công tác, kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị. Xây dựng mối quan hệ tốt với cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân và kết hợp chặt chẽ với các địa phương giao nguồn trong công tác phúc tra, tái phúc tra xây dựng lực lượng cũng như tập trung báo động kiểm tra sẵn sàng động viên tại địa phương và tập trung huấn luyện tại đơn vị. Hiện tại, các đơn vị khung thường trực đạt trên 90% số quân so với biên chế, trong đó Đơn vị H01 đạt 90%, Đơn vị B29 đạt trên 92%. Đội ngũ cán bộ khung thường trực luôn xác định tốt trách nhiệm chính trị, yên tâm công tác, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ của quân đội và quy định của đơn vị; trình độ chỉ huy, tiếp nhận, quản lý, huấn luyện quân dự bị ngày càng được nâng lên, có khả năng sẵn sàng động viên hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao.
Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng DBĐV là chủ động phối hợp chặt chẽ với địa phương giao nguồn, thực hiện đầy đủ các quy trình, các khâu, các bước, từ tạo nguồn, đăng ký, quản lý, sắp xếp đến việc giáo dục, huấn luyện, thực hiện tiếp nhận quân dự bị. Tuy là nhiệm vụ thường xuyên của đơn vị khung thường trực, nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Đoàn, vì ở vùng động viên do Đoàn đảm trách, lực lượng DBĐV luôn biến động, mất cân đối về cơ cấu giữa bộ binh và binh chủng, giữa địa bàn thành thị và nông thôn vùng sâu, vùng xa. Yếu tố khách quan này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn dự bị, nguồn chuyên nghiệp quân sự và cả nguồn cán bộ DBĐV; nếu không bám sát thực tiễn phát triển của địa phương sẽ không khắc phục được tình trạng này. Vì vậy, Đoàn luôn chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với địa phương, trực tiếp là cơ quan quân sự các cấp để tiến hành các bước theo quy trình nhằm nắm chắc nguồn quân DBĐV.
Đảng uỷ Đoàn ra nghị quyết chuyên đề và có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng lực lượng DBĐV. Nghị quyết này được phổ biến đến các chi bộ đơn vị DBĐV để quán triệt và thực hiện. Nghị quyết đã xác định rõ mối quan hệ, sự phối hợp, hiệp đồng với địa phương trong việc tạo nguồn, phúc tra, tái phúc tra, quản lý quân dự bị. Hằng năm, căn cứ vào chỉ tiêu nhận nguồn của trên, Đoàn lập kế hoạch hiệp đồng với các địa phương nơi giao nguồn tổ chức rà soát lại quân số, sắp xếp bổ sung vào biên chế trước hết là quân dự bị hạng I. Thực hiện phương châm “phúc tra đến đâu, nắm chắc đến đó”, “đại đội nắm quân đại đội, tiểu đoàn nắm quân tiểu đoàn”, đảm bảo “biết người, biết nhà, biết hoàn cảnh, biết khả năng và biết nghề nghiệp”, nhất là những trường hợp mới được bổ sung, thay thế để nắm chất lượng chính trị, trình độ chuyên nghiệp quân sự. Trên cơ sở đó thống nhất với địa phương về số lượng, chất lượng quân nhân dự bị; dự kiến hướng sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm, bãi nhiệm, giải ngạch, cắt quân số chuyển khỏi địa phương để ổn định về tổ chức biên chế các đơn vị DBĐV và cùng địa phương quản lý quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật đã được sắp xếp, biên chế vào đơn vị theo kế hoạch thống nhất với địa phương. Bên cạnh đó, Đoàn còn chỉ đạo các đơn vị phối hợp với địa phương nắm vững kế hoạch, chỉ tiêu tuyển quân, đề nghị với địa phương điều chỉnh số lượng, địa bàn tuyển quân cho phù hợp với kế hoạch tạo nguồn ở những địa bàn cần tăng cường nguồn động viên. Không những thế, hằng năm Đoàn luôn thực hiện tốt cử đi đào tạo sĩ quan dự bị, ưu tiên tập trung ở các vùng động viên. Đồng thời, chú trọng huấn luyện chuyển đổi chuyên nghiệp quân sự để nâng dần tỷ lệ đúng chuyên nghiệp quân sự trong biên chế các đơn vị DBĐV của Đoàn. Nhờ đó, biên chế của các đơn vị DBĐV thuộc Đoàn đạt 93,50% so với nhu cầu biên chế, trong đó sĩ quan đạt 60%, đúng chuyên nghiệp quân sự 63,75%, gần đúng 19,9%; đảng viên chiếm 5,97%, đoàn viên 43,7%. Phối hợp với địa phương xây dựng được 2 đảng bộ cơ sở, 6 đảng bộ bộ phận, 56 chi bộ, trong đó có 8 chi bộ có cấp uỷ. Phấn đấu đến năm 2010 biên chế các đơn vị DBĐV của Đoàn đạt 98% quân số theo nhu cầu biên chế, trong đó có 80% xếp đúng và 20% gần đúng chuyên nghiệp quân sự, tỷ lệ đảng viên trên 7% để có đủ điều kiện thành lập chi bộ cho 100% đại đội khi có lệnh động viên. Tiếp tục tạo nguồn, sắp xếp cán bộ đơn vị DBĐV, nhất là cán bộ chính trị; hoàn thiện quy chế phối hợp với địa phương trong xây dựng, quản lý, huy động và tiếp nhận nguồn DBĐV.
Công tác giáo dục, huấn luyện quân dự bị là một trong những nội dung trọng tâm, trọng điểm của công tác DBĐV do Đoàn đảm trách, nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu cho lực lượng DBĐV, bảo đảm sẵn sàng động viên thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu khi có tình huống khẩn cấp. Hằng năm, Đoàn triển khai công tác huấn luyện quân DBĐV đúng theo chỉ lệnh của Quân khu và quy định của Bộ. Căn cứ vào tình hình thực tế, kết quả sắp xếp quân dự bị vào biên chế để xác định kế hoạch huấn luyện cho các đơn vị; đồng thời, hiệp đồng chặt chẽ với Bộ chỉ huy Quân sự Đồng Nai và các huyện giao nguồn chọn thời gian thuận lợi, để cùng địa phương bảo đảm huy động huấn luyện đạt chỉ tiêu cao nhất. Trước khi bước vào huấn luyện, Đoàn chỉ đạo các đơn vị cử cán bộ về địa phương tái phúc tra, nắm chắc tình hình số quân dự bị có khả năng chấp hành lệnh gọi, đề xuất với địa phương giúp đỡ, giải quyết những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, sau đó chốt danh sách, phát lệnh gọi tập trung số quân đủ chỉ tiêu, đúng thành phần theo kế hoạch huấn luyện. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị khung thường trực chuẩn bị chu đáo bài giảng, thao trường, bãi tập, học cụ, tạo điều kiện tốt nhất cho quân dự bị tham gia huấn luyện.
Trong huấn luyện, thực hiện phương châm “Cơ bản, thiết thực, hiệu quả”, huấn luyện sát với yêu cầu nhiệm vụ, chú trọng cả giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự, huấn luyện cán bộ và huấn luyện đơn vị, huấn luyện đơn vị bộ binh và binh chủng. Trước hết, tập trung bồi dưỡng, nâng cao chất lượng huấn luyện cho đội ngũ cán bộ các cấp cả khung A và khung B. Đối với cán bộ khung A, Đoàn chú trọng tập huấn các nội dung về công tác động viên quân đội, biện pháp phối hợp công tác với địa phương, phương pháp tổ chức huấn luyện lực lượng DBĐV theo cương vị, chức trách được giao và biết tổ chức thứ tự các bước tập huấn cho cán bộ khung B. Đội ngũ cán bộ khung B cũng được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực quản lý, chỉ huy, nhất là tổ chức phương pháp huấn luyện. Mặc dù chỉ tập huấn ngắn trước giai đoạn huấn luyện chính, nhưng đội ngũ cán bộ khung B với vai trò “nòng cốt” của mình đã phát huy tốt tinh thần, trách nhiệm trong giáo dục, huấn luyện lực lượng DBĐV. Khi tập trung huấn luyện, Đảng uỷ, chỉ huy Đoàn chỉ đạo các đơn vị tổ chức đảng bộ, chi bộ lâm thời, ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo, giáo dục đơn vị; phân công trách nhiệm cho cán bộ khung B chỉ huy, quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ huấn luyện như đơn vị thường trực. Quá trình huấn luyện, Đoàn chỉ đạo các đơn vị tăng cường huấn luyện thực hành, kết hợp với tổ chức các cuộc hội thao, diễn tập; kết hợp giữa huấn luyện với xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật; tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho quân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập; làm tốt việc sơ kết, tổng kết, khen thưởng, kỷ luật... Nhờ vậy, chất lượng, hiệu quả huấn luyện từng bước được nâng lên và đi dần vào nền nếp; quân số tham gia huấn luyện bình quân hằng năm đạt trên 95%, kết quả kiểm tra 100% đạt yêu cầu, trong đó có trên 70% khá, giỏi; hạn chế thấp nhất các trường hợp vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật dân vận và quy định của đơn vị, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, vũ khí trang bị và các phương tiện. Phấn đấu hằng năm có trên 97% quân số tham gia tập trung huấn luyện; kết quả kiểm tra các khoa mục huấn luyện, diễn tập 100% đạt yêu cầu, có trên 70% khá, giỏi; năm 2007 xây dựng Đơn vị B.29 đạt tiêu chuẩn huấn luyện lực lượng DBĐV giỏi, các đơn vị còn lại phấn đấu đạt đơn vị huấn luyện giỏi trước năm 2010.
Đoàn trưởng
Trao đổi ý kiến giữa Tạp chí quốc phòng toàn dân với bạn đọc, cộng tác viên Quân khu 5 12/12/2011
Nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng quân sự trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc 12/12/2011
“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay 12/12/2011
Một số vấn đề về nghệ thuật chiến dịch phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 12/12/2011
Hưng Yên không ngừng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng 12/12/2011
Kết quả và kinh nghiệm tiến hành công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng vũ trang Quân khu 5 12/12/2011
Đoàn B.90 nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng dự bị động viên - một số kinh nghiệm bước đầu 12/12/2011
Trường Quân sự Binh đoàn Cửu Long phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và huấn luyện 11/12/2011
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh ven biển Thái Bình 11/12/2011
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phát huy nội lực, mở rộng hợp tác, nâng cao hiệu quả hoạt động 11/12/2011