QPTD -Thứ Ba, 06/09/2011, 22:19 (GMT+7)
Bài học sâu sắc về nêu khẩu hiệu hướng dẫn quần chúng hành động cách mạng trong Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945

Vào năm 1991, bốn sáu năm sau ngày Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, nhà quan sát phương Tây Ste-in Tô-nét-sơn, thuộc Viện nghiên cứu Hòa bình thế giới Oslo, trong tác phẩm “ Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-dơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ-gôn trong một thế giới lâm chiến”đã nhận xét: “ Cách mạng Tháng 8-1945 ở Việt Nam đã nêu một ví dụ về những cuộc chiến tranh có thể làm cho những quốc gia già nua tàn héo để cho những quốc gia non trẻ ra đời như thế nào... Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945 được xếp vào nguồn chính thúc đẩy các chính sách sau chiến tranh của các cuộc xung đột: quá trình giải phóng thuộc địa. Cùng với Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Miến Điện và ấn Độ, Việt Nam là đội tiên phong của phong trào chống ách thuộc địa toàn cầu làm sụp đổ không ít đế chế ở châu Âu. Nó đã thúc đẩy làn sóng dân tộc thay đổi thế giới của các ông hoàng, bà chúa cai trị các nước thành những nước độc lập... Nước Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 là chặng đường đầu tiên mở đầu cho làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa ở châu Á, tiếp đến là châu Phi”1.

Chặng đường đầu tiên mở đầu cho “làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa” ấy vị tất đã trở thành hiện thực, nếu những người lãnh đạo cách mạng Việt Nam không kịp thời thực hiện một cuộc chuyển hướng chiến lược từ lấy giải phóng giai cấp làm mục tiêu chủ yếu sang lấy giải phóng dân tộc làm mục tiêu chủ yếu, thể hiện rõ trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp vào tháng 5-1941, dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Từ bước chuyển hướng chiến lược đó, trên chiến trường cách mạng Đông Dương, những khẩu hiệu có tính chất tả khuynh kiểu như “ Trí, phú, địa, hào! đào tận gốc, trốc tận rễ” đã từng thịnh hành ở một số nơi trong phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh không còn thấy xuất hiện nữa. Thay vào đó là những khẩu hiệu đại đoàn kết toàn dân, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù chính là thực dân xâm lược, khi thời cơ chín muồi tập trung toàn lực quyết giành độc lập dân tộc .

Cách mạng là ngày hội của quần chúng! Trong cuộc sống đọa đày, bị áp bức bóc lột của người dân mất nước, quần chúng cơ bản có năng khiếu phân biệt rất nhanh những tổ chức thực sự yêu nước và những tổ chức cách mạng giả danh, làm tay sai cho thực dân, đế quốc. Khi đã xuống đường, họ chỉ quen hành động chứ không quen tranh luận. Việc xem xét tình thế, thời cơ cách mạng, cân nhắc lợi hại trong từng tình huống để tung ra các khẩu hiệu đúng đắn, hướng dẫn hành động cho quần chúng nhằm vào những mục tiêu cụ thể trong cuộc đấu tranh là việc của các tổ chức lãnh đạo, từng cấp phải chịu trách nhiệm trước thành bại của cách mạng và vận mệnh của dân tộc. Cuộc vũ trang khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng 8-1945 đã để lại nhiều bài học sâu sắc, trong đó có bài học về bám sát tình huống, kịp thời đề xuất những khẩu hiệu sát hợp, nhằm hướng dẫn, động viên, khích lệ  quần chúng cách mạng hành động giành thắng lợi.

Từ khi quân Nhật đặt chân vào Đông Dương (tháng 9-1940), rồi thành lập Quân khu Nam (Nanpogun) ở Sài Gòn, biến Đông Dương thành trạm trung chuyển giữa Đông - Nam á và Nhật Bản, thì Đảng Cộng sản Đông Dương (sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, thành lập mặt trận: Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã đưa ra khẩu hiệu: “ Đánh Pháp, đuổi Nhật!”, “ủng hộ Việt Minh !”, “Việt Nam độc lập!”. Những khẩu hiệu này đã kịp thời động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các hội cứu quốc do Mặt trận Việt Minh khởi xướng và lãnh đạo. Ngày 9-3-1945, quân Nhật ở Đông Dương mở chiến dịch Meigo, tiến công quân Pháp trên toàn tuyến, thành lập chính phủ (thân Nhật) Trần trọng Kim (11-3-1945), thì ngay sau đó, ngày 12-3-1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, hướng dẫn công việc cụ thể phải làm để chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Các khẩu hiệu hành động cách mạng cũng lập tức được thay đổi cho sát với tình hình: “Đả đảo phát xít Nhật!”, “Đánh đuổi giặc Nhật!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim!”, “ủng hộ Việt Minh!”,  “Việt Nam hoàn toàn độc lập!”...

Thắng lợi của quân đội Đồng minh dẫn đến cuộc thương lượng giữa những người đứng đầu 3 nước: Mỹ, Liên Xô, Anh ở Pốt-xđam (từ 7-7-1945 đến 2-8-1945). Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, tiến công đội quân Quan Đông, thì vào ngày 15-8-1945, tin Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng đã lan truyền trên đài phát thanh của các nước, đến tai các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ ngày 13-8-1945 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị Trung ương mở rộng, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13-5-1945, ủy ban khởi nghĩa đã kịp thời ra Thông cáo số 1, nhưng do điều kiện giao thông, liên lạc của cách mạng lúc đó, chủ yếu chạy bằng chân, lại đúng lúc miền Bắc đang bị lũ lụt lớn... nên nhiều dịa phương không kịp thời nhận được mệnh lệnh, trong khi đoàn đại biểu đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào vẫn chưa về tới.

Cho tới nay, thành công của Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945 được  tính vào ngày 19-8-1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội, vừa mở đầu, vừa làm chỗ dựa cho Huế (23-8-1945), cho Sài Gòn (25-8-1945) và các địa phương khác khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân vào những ngày khác nhau của nửa cuối tháng 8. Xét cho cùng, ngày 19-8-1945 lịch sử không phải do ta chủ động lựa chọn mà do sự xử trí linh hoạt của Xứ ủy Bắc Kỳ, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh giữa ta và địch trước đó hai ngày. Trong thực tế, Hội nghị Trung ương mở rộng họp ở Tân Trào (từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945) chỉ có thể quyết định tiến hành Tổng khởi nghĩa trong cả nước, nhưng không thể quyết định cho từng nơi khởi nghĩa vào ngày, giờ cụ thể nào. Điều đó phải được quyết định từ thực tiễn diễn biến tình hình địch – ta ở từng nơi. Vả lại, cho tới ngày 19-8-1945, quyết định của Trung ương chưa tới tay từng Xứ ủy. Ngày 15-8-1945, Xứ ủy Bắc Kỳ họp ở làng Vạn Phúc (Hà Đông) cũng chỉ quyết định phát động khởi nghĩa ở những tỉnh, thành phố thuộc Xứ ủy phụ trách, nhưng cũng chưa đủ thực tiễn để quyết định cho Hà Nội khởi nghĩa vào ngày nào cụ thể. Do vị trí đặc biệt quan trọng của Thủ đô, Xứ ủy đã tách ra một bộ phận quan trọng cùng Thành ủy Hà Nội lập ra “ Uỷ ban Quân sự cách mạng” chuyên lo chỉ đạo khởi nghĩa.

Tuyên bố đầu hàng Đồng Minh của Nhật Hoàng, công bố ngày 15-8-1945, buộc quân Nhật ở Đông Dương “không thể còn tiếp tục cai trị như trước”. Chúng phải diễn trò “trao trả độc lập” cho chính quyền tay sai. Sự kiện ấy “ kích thích” Tổng hội viên chức của chính phủ Trần Trọng Kim đứng ra tổ chức cuộc mít tinh ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 17-8-1945 để  hô hào quần chúng “ủng hộ nền độc lập mới giành được!”. Quần chúng thì bức xúc muốn xem tình thế mới dẫn đất nước đến đâu? Còn ủy ban Quân sự cách mạng thì chủ trương cướp diễn đàn, vạch mặt chính phủ bù nhìn, vận động nhân dân ủng hộ Việt Minh, chuẩn bị giành chính quyền. Diễn biến của cuộc “phản mít tinh” biến thành cuộc tuần hành thị uy trên đường phố Hà Nội, lại chứng minh thời cơ cách mạng ở Thủ đô đã chín muồi: chính phủ thân Nhật bị tê liệt; cảnh sát và Bảo an binh người Việt tham gia hàng ngũ Việt Minh, nhập đoàn tuần hành; các trạm gác của Hiến binh Nhật “án binh bất động”, tỏ vẻ không can thiệp trước hàng vạn quần chúng, đủ mọi tầng lớp, trùng trùng, điệp điệp kéo đi trên những đường phố, hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”, “ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập!”...

Như vậy, chỉ nội nhật một ngày, ngày 17-8-1945, đã hội đủ những yếu tố cần và đủ để Uỷ ban Quân sự cách mạng hạ quyết tâm giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội mà không thể chậm trễ. Ngay đêm 17-8-1945, Uỷ ban Quân sự cách mạng được sự nhất trí của Xứ uỷ Bắc Kỳ, một mặt, cho phép các địa phương ngoại thành nơi nào có đủ điều kiện thì đứng dậy giành chính quyền; mặt khác, quyết định: chuẩn bị thật chu đáo để tiến hành chiếm các công sở trong nội đô vào ngày 19-8-1945.

Những tưởng Nhật Hoàng đã công bố lệnh đầu hàng thì vào ngày 19-8-1945, cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội sẽ tiến hành trước “mũi” quân Nhật một cách thuận lợi, như chúng đã từng “án binh bất động” trong ngày 17-8-1945. Sự thật, theo Giáo sư Ma-sa-ya Shi-ra-schi trong tác phẩm “Quân đội Nhật ở Đông Dương từ 1940-1946", sau khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, ngày 16-8-1945, tướng Terauchi đã ra lệnh cho tất cả quân Nhật ở châu Á, Nam Á ngừng chiến đấu, nhưng cho đến ngày 18-8-1945, Bộ Chỉ huy quân Nhật ở Đông Dương lại lệnh cho quân Nhật “thực hiện ngừng bắn vào 8 giờ sáng ngày 21-8”. Tình tiết này cho chúng ta thấy rõ và đánh giá đúng hơn về cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, đặc biệt là nghệ thuật kịp thời đưa ra những khẩu hiệu đấu tranh phù hợp, hướng dẫn  quần chúng hành động đúng đắn, nhằm hóa giải những tình thế thực tế khó khăn, nguy hiểm mà trước đó chưa lường hết.

Như  trên đã đề cập, thời cơ khởi nghĩa vũ trang chỉ xuất hiện khi có tình thế cách mạng trực tiếp, đấy là lúc quân thù rơi vào khủng hoảng trầm trọng - suy yếu, rệu rã, không thể  cai trị như cũ; khi lực lượng trung gian đã ngả về phía cách mạng; khi quần chúng cách mạng “không thể sống như cũ”, quyết xả thân sống chết với quân thù “thì đội tiền phong phải quyết tâm hành động” giành cho được chính quyền bằng khởi nghĩa... Cuộc tuần hành thị uy ngày 17-8-1945 diễn ra sau cuộc “phản mít tinh” dù đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng cách mạng, nhưng vẫn là cuộc tuần hành “phi bạo lực”, diễn ra trong trật tự. Song vào ngày 19-8-1945, nó đã biến thành cuộc đấu tranh vũ trang tiến chiếm các công sở, nhất là cuộc đánh chiếm trại Bảo an binh, phá kho súng để tự trang bị. Trong khi đó, chấp hành mệnh lệnh “Phải giữ nguyên hiện trạng” của Bộ chỉ huy quân đội Nhật ở Đông Dương (Quân khu Nam), Quân đoàn 38 của Nhật đã điều tới một binh đội, có xe tăng yểm trợ, bao vây chặt các ngả quanh phố Hàng Bài, cho bộ binh áp sát hàng rào trại Bảo an binh, đòi tước vũ khí của quân khởi nghĩa, chiếm lại trại lính và kho súng. Nếu lúc đó ta hành động không đủ kiên quyết và khôn khéo, mặc dù các điều kiện cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang đã chín muồi, nhưng thực tế vẫn có thể sẽ xảy ra một cuộc xung đột lớn với lính Nhật thuộc Quân đoàn 38 “có trọng trách” giữ an ninh trật tự ở Thủ đô. Trước tình thế vô cùng khó khăn đó, chính nghệ thuật lãnh đạo đấu tranh, biểu thị bằng các khẩu hiệu hướng dẫn hành động đúng đắn cho quần chúng đã phát huy tác dụng. Các khẩu hiệu: “Đả đảo phát xít Nhật!”, “Đánh đuổi giặc Nhật!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!” trước đó, được thay thế bằng khẩu hiệu rất hợp tình, hợp lý: “Phản đối quân Nhật can thiệp vào công việc của người Việt Nam!” được quần chúng hô vang với dũng khí vô cùng mạnh mẽ, tỏ ra không lùi bước trước sự uy hiếp của súng đạn, xe tăng... Đồng thời, một cuộc đấu tranh ngoại giao mang tính địch vận được tiến hành ngay tại trận và tiếp diễn vào đêm hôm đó. Kết cục, Bộ chỉ huy Quân đoàn 38 của Nhật đã phải trả lời: “Bây giờ công việc của người Việt, các ông phải bàn bạc, tự thu xếp”, gián tiếp thừa nhận chính phủ Trần Trọng Kim không còn giá trị; họ cũng không tiếp tục đòi lại các cơ quan, công sở mà quân khởi nghĩa đã làm chủ... Ngay hôm sau, ngày 20-8-1945, Thường vụ Trung ương Đảng ta yên ổn về đến Hà Nội và đã kịp thời chỉ thị cho các địa phương khác rút kinh nghiệm “làm theo cách của Hà Nội”. Các địa phương khác trên toàn quốc đã “làm theo” Hà Nội bằng việc nêu những khẩu hiệu hướng dẫn quần chúng tiến hành khởi nghĩa phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương mình.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, rất cần những khẩu hiệu hướng dẫn hành động cách mạng cho  quần chúng. Những khẩu hiệu phải biểu thị đầy đủ, ngắn gọn chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời, phải hết sức kịp thời, khéo léo, chuẩn xác, sát với yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi. Đặc biệt, trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay, từ nội dung chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, mỗi ngành, mỗi giới, mỗi tổ chức, địa phương phải căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của từng nơi, từng thời điểm thích hợp mà nêu ra các khẩu hiệu hướng dẫn hành động đúng đắn cho quần chúng để Cuộc vận động đi vào chiều sâu, nhằm biến tiềm năng sáng tạo và tinh thần yêu nước của nhân dân thành hành động cách mạng to lớn, thiết thực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thiếu tướng, GS. Bùi Phan Kỳ

__________

1- Ste-in Tô-nét-sơn - Cách mạng việt Nam năm 1945, Ru-dơ-ven, Hồ Chí minh và Đờ-gôn trong một thế giới lâm chiến, Nxb Sege, London, 1991, tr. 113, 114.

 

Ý kiến bạn đọc (0)