Nghiên cứu - Tìm hiểu Tìm hiểu truyền thống quân sự

QPTD -Thứ Tư, 03/02/2016, 09:35 (GMT+7)
Nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến trận Hố chuối năm 1891

Kéo dài gần 30 năm (1884-1913), khởi nghĩa Yên Thế có những trận đánh để lại giá trị đặc sắc về nghệ thuật quân sự. Trận Hố Chuối (09-12-1890 – 10-01-1891) là một trong số đó.

Sau nhiều lần mở các cuộc hành quân, càn quét, vây bắt Nghĩa quân Đề Thám không thành, cuối năm 1890, được một giám mục địa phương mật báo, thực dân Pháp tập trung lực lượng mở cuộc tiến công quy mô lớn vào khu vực Hố Chuối (Phồn Xương, Yên Thế, Bắc Giang) – căn cứ chủ yếu của Nghĩa quân Yên Thế. Thực hiện ý đồ này, địch tập trung củng cố hệ thống đồn bốt ở khu vực Nhã Nam; điều động một số lực lượng từ nơi khác đến cùng với hỏa lực mạnh các loại, hòng tiêu diệt lực lượng Nghĩa quân, tiến tới dập tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Tuy nhiên, do Nghĩa quân chủ động tạo lập thế trận tác chiến liên hoàn, vững chắc trên địa bàn rừng núi hiểm trở, lại có tinh thần chiến đấu quả cảm, cách đánh thông minh, sáng tạo, nên đã lần lượt đánh bại nhiều đợt tiến công quy mô lớn của địch. Kết quả trận đánh, Nghĩa quân đã tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu 02 đại đội Lính thuỷ đánh bộ và 02 đại đội thuộc Trung đoàn 11 Ngụy; buộc địch phải điều động lực lượng, thay đổi thế trận. Chiến thắng này, không chỉ làm cho địch tổn thất nặng, mất ổn định trong thế phòng thủ của chúng ở Bắc Bộ mà còn làm giới chóp bu cầm quyền Pháp và giới quân sự Pháp ở Đông Dương choáng váng, nể phục trước sự mưu trí, tinh thần chiến đấu cảm tử của Nghĩa quân. Trận đánh Hố Chuối đã thể hiện sinh động một cuộc chiến tranh nhân dân với nhiều nét nghệ thuật tác chiến đặc sắc.

Cổng chính Đồn Phồn Xương (Ảnh tư liệu)

1. Xây dựng tinh thần chiến đấu quả cảm, gan dạ, không sợ hy sinh, quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ quê hương, đất nước. Đây là nhân tố cốt lõi, quan trọng nhất, quyết định đến thắng lợi trong trận Hố Chuối của Nghĩa quân. Đặc biệt, trong bối cảnh những năm đầu của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Nghĩa quân với vũ khí, trang bị thô sơ phải đương đầu với Đội quân Viễn chinh Pháp – một đội quân nhà nghề được trang bị vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh hiện đại, nên việc xây dựng yếu tố chính trị tinh thần, quyết tâm chiến đấu cho Nghĩa quân có ý nghĩa quyết định. Nhận thức rõ điều đó, Đề Thám và các lãnh tụ Nghĩa quân đã giáo dục, bồi đắp tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc cho Nghĩa binh. Theo đó, trên nền tảng của một cuộc chiến tranh chính nghĩa, Đề Thám đã truyền thụ về nỗi thống khổ của người dân mất nước; chỉ rõ nguyên nhân khổ đau đều do sự tàn bạo của đế quốc Pháp xâm lược. Bằng thực tiễn, Ông chỉ cho mọi người thấy rõ bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của quân giặc; rằng chính quân Pháp đã bắn giết dân lành, đốt phá nhà cửa, ruộng vườn. Muốn cứu nước, cứu nhà phải nổi dậy đánh Pháp và Nghĩa quân của Ông thề giết giặc để bảo vệ nhân dân. Chính vì vậy mà cuộc khởi nghĩa Yên Thế nói chung, trận Hố Chuối nói riêng Nghĩa binh đã thể hiện tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm mãnh liệt mà địch không ngờ tới. Đó là khi địch bắn phá ác liệt vào đồn, nhưng các Nghĩa binh không nao núng, chờ giặc đến thật gần mới nổ súng tiêu diệt, khiến địch hoảng loạn, tháo chạy. Thậm chí, đợt tiến công thứ 3 (ngày 22-12-1890) địch hối thúc các toán quân Âu Phi dùng lưỡi lê xông vào công sự của ta, các nghĩa binh vẫn bình tĩnh, làm chủ trận đánh, vùng lên diệt địch khiến chúng bất lực, tổn thất nặng nề, buộc phải rút lui. Không chỉ bồi đắp lòng yêu nước, ý chí quyết tâm một cách thường xuyên, mà khi xảy ra các tình huống nguy hiểm, Đề Thám còn chủ động, bình tĩnh động viên Nghĩa binh chiến đấu. Điển hình là trận chiến đấu ngày 09-01-1891 khi đồn Hố Chuối bị hỏa lực địch bắn cháy, Đề Thám đã bắc loa động viên: “Hỡi những người lính trong quân đội trung nghĩa, trong đội quân bất khuất, trong đội quân tất thắng. Ta rất hài lòng về các ngươi! Cố gắng mà kháng cự. Quân tiếp viện đang đến. Các ngươi là vô địch”1. Liều thuốc tinh thần đó đã kịp thời động viên, cổ vũ Nghĩa quân trong đồn bình tĩnh hăng hái, kiên quyết chống giữ, còn lực lượng ở các pháo đài bất chấp cuộc pháo kích kéo dài nhiều giờ, cũng vẫn trụ lại vị trí chiến đấu; khi thời cơ đến (lúc bộ binh địch tiến gần), nhất tề xung phong ra khỏi công sự chiến đấu dũng mãnh, tiêu diệt phần lớn lực lượng địch, giữ vững trận địa. Sau này các nhà nghiên cứu đều cho rằng, tại Hố Chuối, quân Pháp đã đối đầu với một đối thủ có quyết tâm chiến đấu cao đến bất ngờ.

2. Tạo lập thế trận hiểm hóc, liên hoàn, vững chắc, bảo đảm cho phòng thủ, tiến công thuận lợi. Qua nhiều lần giao chiến với quân Pháp, Nghĩa quân đã nắm vững quy luật hoạt động, thủ đoạn tác chiến cùng những điểm mạnh, yếu của địch. Đó là, sợ đánh gần, nhất là khó xoay chuyển trong địa hình hiểm trở; dựa vào hoả lực pháo binh và khi thương vong tinh thần dễ sa sút, v.v. Nắm chắc điểm yếu chí tử đó, Bộ Chỉ huy tối cao Nghĩa quân chủ trương tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc tại khu vực rừng núi Yên Thế. Theo đó, tại một vùng trũng thấp của khu rừng Hữu Thượng bạt ngàn chuối dại, Nghĩa quân xây đồn Hố Chuối như một công sự nửa nổi, nửa chìm (nhằm hạn chế hỏa lực, phi pháo của địch) làm đại bản doanh. Để hỗ trợ cho đồn chính, Nghĩa quân còn thiết lập hai pháo đài phòng thủ (Bắc và Nam) cách Hố Chuối khoảng 100m tạo thế chân vạc, bảo vệ, hỗ trợ nhau rất linh hoạt. Ngoài ra, Đề Thám còn cử người thiết lập hệ thống đồn phòng thủ xung quanh Hố Chuối, như: đồn Hom, Hang Sọ, làng Nứa, làng Vàng,… cơ sở hậu cần ở Vòng Dông cùng hệ thống làng chiến đấu (Dương Sặt, Thế Lộc, Luộc Hạ, Cao Thượng) với nhiều chướng ngại vật hiểm trở. Nhờ có thế trận vững chắc, Nghĩa quân có thể phát hiện, đánh địch từ xa đến gần, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch trước khi chúng đến được mục tiêu chủ yếu. Đặc biệt, tại Hố Chuối, với thế trận độc đáo, hiểm hóc, rừng đã trở thành vật cản cả hỏa lực và hạn chế tầm nhìn của địch; trường hợp áp sát chân đồn thì bị bắn trả từ các lỗ châu mai hiểm hóc, v.v.

Nét độc đáo của thế trận này còn được thể hiện bởi hệ thống giao thông hào chìm (không có bờ) nối liền các điểm với nhau và thông ra suối Gồ về phía sau, tạo thế cơ động linh hoạt, vừa có thể đánh địch ở chính diện, vừa có thể tiến công vào bên sườn, phía sau đội hình của chúng. Điều này đã giải thích vì sao địch tập trung quân đông, tinh nhuệ, với nhiều vũ khí hiện đại, tiến công từ nhiều hướng, nhiều ngày, nhưng cả 04 cuộc tiến công đều không thành công.

3. Vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, đánh bại các đợt tiến công của chúng, giữ vững trận địa. Đây là một trong những nét nghệ thuật độc đáo, sáng tạo của Nghĩa quân Yên Thế khi phải đương đầu với đối tượng địch có ưu thế hơn hẳn về lực lượng cùng vũ khí, trang bị. Cùng với thiết lập thế trận liên hoàn, vững chắc, Nghĩa quân đã vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu với một quyết tâm cao và tổ chức kỷ luật chặt chẽ. Nổi bật là các thủ đoạn, như: đánh nhỏ, lẻ vào đội hình cơ động và triển khai tiến công của chúng; đánh gần; tập trung hỏa lực; phản kích; chia cắt; v.v. Điều đáng nói là, các thủ đoạn chiến đấu này được các bộ phận của Nghĩa quân vận dụng phù hợp với từng tình huống của trận đánh, từng tình hình địch cụ thể khiến chúng luôn bất ngờ, bị động đối phó và dẫn đến thất bại. Điển hình là, cuộc tiến công ngày 22-12-1890, Nghĩa quân đã đánh những trận nhỏ, lẻ bất ngờ vào đội hình cơ động của hai bộ phận do các tên Thiếu tá Tan và Đại úy Rô-be chỉ huy, làm cho chúng trong 04 giờ mới tiến được 200m. Sau đó, được sự chi viện của pháo binh, địch ồ ạt tiến vào pháo đài Bắc và đồn Chính, Nghĩa quân để cho giặc đến thật gần mới đồng loạt, bất ngờ nổ súng từ các hướng vào từng tốp, tiêu diệt nhiều sinh lực địch (trong đó có tên Trung úy Ble-dơ), bẻ gãy cả 04 đợt tiến công, hất chúng ra ngoài suối Gồ. Nét đặc biệt trong sử dụng các thủ đoạn chiến đấu của trận Hố Chuối là không phòng ngự cứng nhắc tại chỗ (mặc dù có thành chắc, hào sâu, vật cản phức tạp), mà Nghĩa quân vận dụng giữa đánh địch trước trận địa với tổ chức các mũi phản kích vào hai bên sườn, phía sau đội hình địch để chia cắt chúng một cách rất linh hoạt trong từng tình huống cụ thể. Thực tế, ngày 09-01-1891 Pháp cho pháo binh, súng cối bắn vào Hố Chuối, pháo đài Bắc và Nam suốt 03 giờ liên tục, gây cho trận địa của ta tổn thất đáng kể; lợi dụng tình hình đó, những toán quân do Ghi-nhê, Lơ-gia-nê chỉ huy hăm hở tiến công. Trước tình thế nguy kịch, các đơn vị “Vô Địch”, “Tất Thắng”, “Tinh Nhuệ” của Nghĩa quân nhanh chóng rời công sự hình thành các mũi phản kích vào bên sườn, phía sau, xé nhỏ đội hình tiến công của địch làm cho chúng rối loạn và bị tiêu diệt. Không chỉ vận dụng linh hoạt, có hiệu quả các thủ đoạn chiến đấu, Nghĩa quân còn sử dụng công tác binh vận như một mũi tiến công sắc bén vào tinh thần địch. Thực tiễn cho thấy, trong đợt tiến công ngày 22-12-1890, ngay khi địch bị đánh tơi tả, Đề Thám đã cho dừng trận đánh dành thời gian cho địch làm công tác cứu thương. Qua đó đã tác động, kêu gọi binh lính địch từ bỏ ý định tiến công vào Hố Chuối, làm giảm sức mạnh chiến đấu, khiến chúng tiến công nhiều ngày, nhiều đợt mà không đạt được mục tiêu đề ra.

Đã 125 năm trôi qua, nhưng nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến của trận Hố Chuối vẫn còn nguyên giá trị. Trận đánh đã để lại nhiều bài học quý trong kho tàng Nghệ thuật Quân sự Việt Nam, cần tiếp tục được nghiên cứu, phát triển và vận dụng vào xây dựng khu vực phòng thủ của các tỉnh, thành phố trong tình hình hiện nay.

NGUYỄN VĂN SỬ
_____________

1 - Khổng Đức Khiêm và Nguyễn Xuân Cần, Khởi nghĩa Yên Thế, Sở Thông tin Văn hóa Bắc Giang, H. 1997, tr. 186.

Ý kiến bạn đọc (0)

"Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" năm 1964 và bài học Chiến thắng trận đầu của quân, dân miền Bắc
Ngày 05-8-1964, với việc dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Song, chúng đã bị quân và dân miền Bắc giáng trả những đòn thích đáng, với những nét nghệ thuật đặc sắc.
Thông tin tiện ích

Giá vàng

Thời tiết