Bình luận - Phê phán Phòng, chống "DBHB" - "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

QPTD -Chủ Nhật, 27/01/2013, 04:00 (GMT+7)
Không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một trong những nội dung cơ bản để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Lợi dụng những khó khăn của kinh tế nhà nước hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò của thành phần kinh tế này.

 

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN, trong đó kinh tế nhà nước (KTNN), nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò chủ đạo. Quá trình phát triển đó cũng đồng thời là quá trình cải cách KTNN và DNNN, nên số lượng các DNNN đã giảm đáng kể1. Các DNNN hoạt động chủ yếu trong các ngành đảm bảo cân đối lớn của nền kinh tế hoặc phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, các khu đô thị… Nhìn nhận một cách khách quan, không bị chi phối bởi những “thiên kiến” cá nhân, cùng với những thành tựu chung của nền kinh tế, KTNN và DNNN đã có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế; trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội2, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cho nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định an ninh lương thực quốc gia. Đồng thời, bảo toàn và phát triển các nguồn lực vật chất trong nền kinh tế; là lực lượng chủ yếu hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới, đầu tư vào những lĩnh vực, các công trình trọng điểm quốc gia cần vốn lớn, có thời gian thu hồi vốn chậm. KTNN và DNNN là đội quân chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò tích cực trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu (năm 2008 – 2010) đến nền kinh tế nước ta.

Khẳng định vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của KTNN và DNNN, chúng ta cũng không phủ nhận những hạn chế, yếu kém của nó. Đó là sự yếu kém của các tập đoàn kinh tế (TĐKT) và các tổng công ty nhà nước (TCTNN) thuộc sở hữu nhà nước. Biểu hiện cụ thể là: hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất còn thấp; sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thua lỗ còn lớn, hiện đang là “vấn đề nóng”; cổ phần hóa (CPH) DNNN diễn ra chậm, có nhiều lỗ hổng, làm tiền của, tài sản của Nhà nước bị thất thoát; tình trạng đặc quyền, đặc lợi, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu, làm méo mó quan hệ thị trường, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, hạn chế sự cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế… Những yếu kém, hạn chế của KTNN và DNNN xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, trong đó chủ quan là chính, tạo ra ảnh hưởng không tốt đến sự đánh giá và nhìn nhận của xã hội về vai trò chủ đạo của KTNN. Cũng từ đó, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của KTNN, đòi tư nhân hóa hết các DNNN. Gần đây, đã xuất hiện những ý kiến “trái chiều”, cho rằng chúng ta nên bỏ cụm từ “KTNN giữ vai trò chủ đạo” trong các văn bản, nghị quyết; hoặc “xem lại vai trò chủ đạo của KTNN”, với nhiều lý lẽ khác nhau.

Từ thực tế đã nêu, chúng ta cần có cách nhìn nhận một cách khách quan, đầy đủ hơn về KTNN, cả ở trong nước và ngoài nước. Ở các nước tư bản phát triển cũng có KTNN và DNNN được xây dựng trên sở hữu nhà nước tư bản độc quyền. Dĩ nhiên, họ không xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ, kinh tế TBCN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân TBCN và đương nhiên kinh tế tư nhân, doanh nghiệp tư nhân là chủ yếu, là nền tảng. Trong nền kinh tế TBCN, cũng có những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thành đạt và cũng không ít doanh nghiệp thua lỗ, phá sản… Ở Mỹ, tính đến tháng 9-2008, có đến 30.000 doanh nghiệp phá sản, đưa tỷ lệ thất nghiệp lên tới 6,7% - mức cao nhất trong vòng 15 năm qua.

Ở nước ta, không phải tất cả các DNNN đều hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh những TĐKT thua lỗ, như: Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam; hoặc lãi không nhiều do đặc thù sản xuất, kinh doanh, như: Tổng công ty Đường sắt, Tổng công ty Hàng không…, vẫn có khá nhiều TĐKT, TCTNN hoạt động thực sự có hiệu quả, như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Công nghiệp hóa chất… Ngược lại, cũng không phải tất cả các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt động có hiệu quả. Trong năm 2012, chúng ta đã chứng kiến nhiều “đại gia” của kinh tế tư nhân “ngã ngựa”, thua lỗ mất trắng doanh nghiệp, phải đi làm thuê hoặc rơi vào vòng lao lý, tù tội, mà nguyên nhân là: lòng tham, sự nóng vội, kỳ vọng vào sự phát triển đột phá của doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp yếu kém, lợi dụng khe hở của pháp luật để làm giàu bất chính… Sự phát triển lệch lạc của khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài làm cho nó phát triển không bền vững, không phù hợp với tăng trưởng xanh và phát triển hài hòa với các lợi ích xã hội.

Như vậy, lẽ đương nhiên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của thành phần KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN. Để làm được điều đó, một mặt, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách và các chủ trương, giải pháp sát thực, tính khả thi cao; mặt khác, phát huy vai trò tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo của các DNNN trong sản xuất, kinh doanh. 

Trước hết, phải nhận diện đúng thành phần KTNN, từ đó kiên trì quan điểm “KTNN giữ vai trò chủ đạo”. Có thể hiểu KTNN là tập hợp sức mạnh kinh tế mà nó thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế pháp luật, định chế tài chính, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của “lực lượng nòng cốt” - khu vực DNNN, chứ không chỉ đóng khung trong khối tài sản đăng ký của DNNN, ở quy mô của sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. KTNN còn được nhân lên gấp bội để làm vai trò chủ đạo, định hướng XHCN bởi sức mạnh quản lý, điều hành của hệ thống chính trị, quyền lực quốc gia của Nhà nước. Hiểu như vậy, rõ ràng KTNN có phạm vi, vai trò rộng lớn hơn “phạm trù DNNN”, giữ vị trí trọng yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng cơ bản để phát triển các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; giữ vai trò định hướng XHCN nền kinh tế nước ta. Vì thế, KTNN phải được xây dựng, phát triển thành “lực lượng chủ đạo” trong định hướng XHCN nền kinh tế, chứ không nên chỉ hiểu và diễn giải thành DNNN 100% vốn nhà nước phải giữ vị trí chi phối trong các ngành kinh tế và lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế và độc quyền trên nhiều lĩnh vực. Các DNNN là lực lượng nòng cốt của KTNN đi đầu trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. DNNN phải tiên phong, mở đường ở những ngành, những lĩnh vực mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc làm không được khi đã được tạo điều kiện, hỗ trợ từ phía Nhà nước, những ngành đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao, tạo nền tảng cơ bản cho những ngành sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, có giá trị gia tăng cao.

Thứ hai, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Theo đó, nước ta cần tiếp tục giảm số lượng DNNN, song không có nghĩa là giảm tính chất XHCN, giảm vai trò định hướng XHCN của KTNN; mà sắp xếp, điều chỉnh để DNNN có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong đổi mới, ứng dụng khoa học - công nghệ, giữ vững định hướng XHCN của nền kinh tế, tập trung vào những khâu, công đoạn then chốt của 4 lĩnh vực chính, bao gồm: công nghiệp quốc phòng, công nghiệp độc quyền tự nhiên, lĩnh vực cung cấp hàng hóa thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, có sức lan tỏa lớn3. Đồng thời, kiên trì nguyên tắc: “Nhà nước chỉ làm những gì mà tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm được, khi đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ phía Nhà nước”. Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh CPH các DNNN, kể cả các TĐKT và TCTNN; tập trung tháo gỡ tình trạng CPH mang tính “khép kín”, nội bộ, nhiều doanh nghiệp được CPH song xác định giá trị doanh nghiệp rất thấp; khắc phục những vướng mắc, tiêu cực khi tính giá trị thương hiệu, quyền sử dụng đất, tài sản doanh nghiệp… và “lợi ích nhóm” trong quá trình CPH .

Thứ ba, đổi mới cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước và cơ chế giám sát hoạt động các DNNN. Cần tách bạch chức năng chủ sở hữu DNNN ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, không để tình trạng “ba trong một” - các bộ vừa là chủ sở hữu, vừa ban hành chính sách, vừa kiểm soát thị trường, dẫn đến xung đột lợi ích khi điều hành hoạt động của DNNN, nhất là TĐKT và TCTNN. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện mối quan hệ giữa chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu trong các TĐKT và TCTNN; đồng thời, hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên cơ sở làm rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ với cơ quan quản lý vốn và cơ quan quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động các DNNN nhằm hướng tới thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Đây là điều kiện tối cần thiết để bảo toàn và phát triển vốn thuộc sở hữu nhà nước; bảo đảm vốn của Nhà nước hướng vào các mục tiêu ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chứ không phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Đồng thời, đảm bảo cho Nhà nước kiểm soát được hoạt động của các DNNN thông qua tính minh bạch của hệ thống pháp luật, công khai các thông tin về hoạt động của DNNN. Nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNN, Nhà nước cần chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; gắn kiểm tra, giám sát bên ngoài doanh nghiệp (các cơ quan làm nhiệm vụ giám sát, kiểm tra doanh nghiệp) với kiểm tra, giám sát nội bộ doanh nghiệp một cách thực tế và hiệu lực cao.

Thứ tư, cải cách quản trị DNNN, hướng vào hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức, mô hình hoạt động của TĐKT, đảm bảo kinh doanh lành mạnh theo cơ chế thị trường, như: giảm tối đa tính độc quyền của các TĐKT, TCTNN. Các DNNN phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2005; hoàn thiện mô hình công ty mẹ - công ty con của các TĐKT và TCTNN; áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với KTTT và thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm toán, giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của DNNN. Về lâu dài, cần nghiên cứu phương án hình thành tổ chức chuyên trách thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nước tại công ty mẹ của TĐKT nhà nước, các TCTNN và DNNN quy mô lớn, quan trọng; nâng cao tính độc lập, chuyên nghiệp và năng lực chuyên môn của các ban kiểm tra tại các DNNN để việc kiểm tra, giám sát nội bộ thực sự hiệu quả.

Thứ năm, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển KTTT định hướng XHCN. KTNN và DNNN chỉ có thể phát huy được vai trò của mình khi có hệ thống quản lý nhà nước phù hợp và có sức mạnh thật sự của chính KTNN. Xét đến cùng, sự yếu kém của các TĐKT, TCTNN có nguyên nhân từ phía Nhà nước nhiều hơn từ phía DNNN. Do đó, nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước đang là một trong các vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Trong nền KTTT định hướng XHCN, với tư cách là người điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước định hướng, điều tiết đầu tư của các chủ thể kinh tế vào phát triển kinh tế - xã hội; phân bổ, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình. Điều này đòi hỏi Nhà nước không thể dành những “ưu ái” cho DNNN mà phải đưa các DNNN vào hoạt động trong môi trường liên kết, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Với tư cách là chủ sở hữu các DNNN, Nhà nước phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của mình đối với doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước cần tập trung thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, kiểm soát các DNNN. Điều quan trọng nhất là yêu cầu các doanh nghiệp phải công khai, minh bạch thông tin về hoạt động kinh tế (trừ các thông tin về bí mật quốc gia, bí quyết công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp). Trước mắt, điều chỉnh sự phân công, phân cấp giữa Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu DNNN cấp trên hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) mà không trực tiếp chỉ đạo hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó, phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, nhất là lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp. Đổi mới quy trình, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân liên quan đến việc xem xét, quyết định nhân sự lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp, đặc biệt là nhân sự chủ tịch hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) và giám đốc4. Lựa chọn, bố trí đúng đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành doanh nghiệp với nguyên tắc “giao tài sản cho người nào có khả năng quản lý có hiệu quả tài sản đó”. Bố trí cán bộ quản lý phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề và gắn trách nhiệm, quyền lợi với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nêu cao vai trò trách nhiệm của hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) và ban thường vụ đảng ủy; thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) kiêm bí thư đảng ủy doanh nghiệp4.

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nội dung, giải pháp trên, sức mạnh của KTNN sẽ được phát huy, bảo đảm giữ vững vai trò chủ đạo trong định hướng XHCN nền KTTT ở Việt Nam. Đó cũng là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch hòng phủ nhận vai trò chủ đạo của KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN của chúng ta.

GS, TS. CHU VĂN CẤP

Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh

 

_________

1 - Trong những năm 1990, có hơn 12.000 doanh nghiệp. Đến nay, theo báo cáo của Ban Đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cả nước có 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó: quốc phòng, an ninh, và công ích là 452 doanh nghiệp, chiếm 34,5%; công ty nông, lâm, nghiệp là 249 doanh nghiệp, chiếm 19,0%; kinh doanh trong các lĩnh vực là 608 doanh nghiệp, bằng 46,5% tổng số doanh nghiệp. Các DNNN tập trung chủ yếu vào 20 TĐKT và các TCTNN 91.

2 - Theo số liệu của Tổng cục Thống kê: năm 2011, DNNN chiếm 1,1% trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam, chiếm 37,1% tổng giá trị tài sản, 44,8% tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính, 27% tổng doanh thu, 37,8% tổng lợi nhuận trước thuế, đóng góp 37,4% nộp thuế và nộp ngân sách, tạo việc làm cho 19,5% lực lượng lao động xã hội.

3 - Kết luận của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI.

4, 5 - Kết luận của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI.

 

Ý kiến bạn đọc (0)

Việt Nam luôn nỗ lực thực thi các chính sách về quyền con người
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc nhấn mạnh: Hòa bình, phát triển và nhân quyền luôn thể hiện mong muốn chung của cộng đồng quốc tế. Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực thực thi các chính sách về quyền con người, bao gồm cả những khuyến nghị từ lần kiểm điểm trước đó.
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 04:25 - 22/09/2019

EUR25428.9926271.52

GBP28739.1829199.38

USD2315023270

Giá vàng

Thời tiết