Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Nghiên cứu, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Ba, 30/08/2016, 22:23 (GMT+7)
Tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc

(Tiếp theo và hết)

V: Tăng cường sự quản lý của Nhà nước về quốc phòng

Quốc phòng là công việc hệ trọng của quốc gia, bao gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học của Nhà nước và nhân dân, tạo sức mạnh toàn diện, cân đối để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Do vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng là tất yếu khách quan, nhằm xác lập trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với toàn xã hội về lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định phải tập trung “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng,…”1. Điều đó xuất phát từ thực tiễn tổ chức quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh những năm vừa qua và yêu cầu, nhiệm vụ đối với lĩnh vực này trong tình hình mới. Đó cũng là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thể hiện sự phát triển, tư duy mới của Đảng trong lĩnh vực này, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Sự phát triển tư duy của Đảng được thể hiện ở chỗ, tại Đại hội XI, việc quản lý nhà nước về quốc phòng được đề cập như một biện pháp thường xuyên trong quản lý nhà nước nói chung, mà chưa thấy hết những tác động phức tạp, khó lường, có tính đặc thù của nó đối với nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Đến Đại hội XII, căn cứ vào tình hình thực tiễn, Đảng ta yêu cầu việc quản lý nhà nước về quốc phòng phải nâng cao cả về hiệu lực và hiệu quả, trên cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật cùng cơ chế, chính sách của Nhà nước về quốc phòng trong từng lĩnh vực; thực hiện Nhà nước thống nhất quản lý về quốc phòng bằng luật pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của công dân được thực hiện đầy đủ trên thực tế. Đây là sự phát triển có tính toàn diện và sâu sắc hơn, thể hiện sự thống nhất biện chứng về nội hàm của công tác quản lý nhà nước về quốc phòng và quan hệ giữa nó với các lĩnh vực khác trong điều kiện mới.

Điểm mới trong Văn kiện Đại hội XII về lĩnh vực này là, lần đầu tiên Đảng ta khẳng định tính pháp lý và “hiệu lực” phải đạt được trong quản lý nhà nước về quốc phòng trên tất cả các lĩnh vực. Điều đó có nghĩa là, cùng với hoàn thiện một cách khoa học, đồng bộ hệ thống pháp luật, công tác này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp; có sự phân cấp, quy định trách nhiệm rõ ràng từ Trung ương tới cơ sở; sự tham gia của các cấp, ngành và toàn dân, bằng nhiều hình thức khác nhau theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều hành, nhân dân làm chủ. Trong đó, chủ thể quản lý bao gồm tổng thể các cơ quan nhà nước, mà nòng cốt là các cơ quan quản lý chuyên trách. Khách thể quản lý bao gồm tổng thể các lĩnh vực, các hoạt động xã hội có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân. Cùng với chỉ ra mục tiêu: góp phần tạo ra sức mạnh quốc phòng toàn diện, Đảng ta xác định công tác này phải đồng thời bảo đảm tính cân đối, ổn định và phát triển trong các lĩnh vực khác, nhất là việc giải quyết giữa một bên là tăng trưởng kinh tế với bên kia là các yêu cầu khắt khe của quốc phòng, an ninh. Vì thế, quá trình nghiên cứu, quán triệt quan điểm của Đảng, chúng ta cần nắm vững nội hàm, tính chất, phương thức cũng như yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu của công tác này để không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Qua tổng kết 30 năm đổi mới đất nước cho thấy, trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng đã không ngừng được tăng cường, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc quản lý nhà nước về quốc phòng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nhất vẫn là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề nguy hiểm là, chúng lợi dụng việc nước ta tăng cường hội nhập quốc tế để có thể “đứng chân” một cách hợp pháp trên các địa bàn chiến lược, nhất là dưới vỏ bọc của các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Trong khi đó, nhiều nội dung, như: đất quốc phòng, các công trình phòng thủ, vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng,… trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng phát sinh những vấn đề mới, cần được quan tâm giải quyết. Vì thế, tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng, phải được quán triệt, triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, các tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân.

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của cấp ủy các cấp đối với công tác quản lý nhà nước về quốc phòng. Đây là vấn đề rất quan trọng, mang tính nguyên tắc, được quy định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam,… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Mặt khác, còn xuất phát bởi quốc phòng là lĩnh vực đặc thù, liên quan đến vận mệnh của đất nước, sự tồn vong của chế độ, nên việc quản lý bắt buộc phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của cấp ủy các cấp trên từng mặt công tác. Theo đó, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ bằng quan điểm, đường lối thông qua các nghị quyết, chỉ thị, mà còn là sự chỉ đạo sắc bén về xây dựng thống nhất, đồng bộ cơ cấu tổ chức đảng trong lãnh đạo công tác quốc phòng từ Trung ương đến địa phương, nhất là ở địa phương, cơ sở. Cấp ủy các cấp tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các nội dung lãnh đạo về quốc phòng, cơ chế hoạt động và trách nhiệm phối hợp của từng cấp, ngành, địa phương liên quan đến hoạt động quốc phòng, nhất là khi xử lý các tình huống phức tạp, nhạy cảm. Bên cạnh đó, cần coi trọng lãnh đạo làm tốt công tác quy hoạch về quốc phòng theo hướng khách quan, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm những vấn đề căn cốt nhất của quốc phòng, an ninh không bị chi phối bởi bất cứ yếu tố chủ quan nào, tạo sự thống nhất, đồng bộ trong thực hiện ở từng ngành, lĩnh vực và cả nước. Trong đó, vấn đề về đất quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và nguồn nhân lực phục vụ cho quốc phòng là những nội dung cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong thời gian tới.

2. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng. Từ lý luận và hoạt động thực tiễn, chúng ta đã xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các luật về quốc phòng tương đối hoàn chỉnh, như: Luật Quốc phòng, Luật Dân quân tự vệ, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên, Luật Nghĩa vụ quân sự, v.v. Các luật này đã, đang đi vào cuộc, sống, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất, công bằng và nâng cao hiệu quả hoạt động quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, trên thực tế (do nhiều nguyên nhân khác nhau), một số văn bản luật hiện không còn phù hợp, có biểu hiện chồng chéo, chưa sát với đối tượng thực hiện, thậm chí mâu thuẫn nhau, dẫn tới việc nhận thức thiếu thống nhất, gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện. Vì vậy, để tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các cơ chế, chính sách về quốc phòng bảo đảm tính chuẩn mực, hợp hiến, hợp pháp, vững chắc và có khả năng dự báo cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa cơ quan ban hành luật (Quốc hội) với cơ quan tổ chức thực hiện (Chính phủ) và đối tượng thi hành (các tổ chức và công dân). Trong đó, với chức năng được giao là cơ quan chủ trì giúp Thủ tướng Chính phủ về quản lý nhà nước về quốc phòng, Bộ Quốc phòng cần phát huy vai trò tham mưu giúp Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo việc soạn thảo, ban hành và giám sát, kiểm tra việc thi hành luật của các ban, ngành, lĩnh vực, địa phương. Đây là vấn đề rất hệ trọng, có tác động trực tiếp đến cả đời sống xã hội trong nước và quan hệ quốc tế, nên cần được nghiên cứu một cách khoa học, khách quan, toàn diện cả về lý luận và thực tiễn; đồng thời, phải lựa chọn đội ngũ cán bộ soạn thảo có kiến thức rộng và chuyên sâu, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ. Quá trình thực hiện, cần coi trọng tính đồng bộ, thống nhất về nội dung và đi sâu vào những vấn đề cấp thiết đang đặt ra; tránh chồng chéo về chức năng, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.    

3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng. Quản lý nhà nước về quốc phòng là phạm trù có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực, các cấp, ngành, địa phương và toàn dân, cả trong nước và ngoài nước. Do vậy, quản lý chặt chẽ, toàn diện lĩnh vực này không thể chỉ tập trung vào một số cơ quan chức năng, mà đòi hỏi hình thành hệ thống tổ chức hoàn chỉnh từ Trung ương đến cơ sở. Hiện nay, công tác quản lý nhà nước về quốc phòng do chính quyền các cấp chủ trì, cơ quan quân sự cùng cấp làm trung tâm tham mưu, phối hợp hiệp đồng. Ở các ở một số bộ, ngành tuy đã thành lập Ban Chỉ huy quân sự nhưng một số nơi chưa hoàn chỉnh; trong khi đó, kiến thức, năng lực của cán bộ làm công tác chuyên trách về lĩnh vực này còn nhiều bất cập. Để khắc phục tình trạng đó, thời gian tới, cùng với xác định trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền trong quản lý nhà nước về quốc phòng, cần nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh bộ máy chuyên trách quản lý quốc phòng, quân sự ở tất cả các cấp theo hướng: đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng theo quy định. Đồng thời, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở các cấp, ngành, cơ quan, tổ chức và địa phương. Thực hiện nghiêm quy định: bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh là tiêu chuẩn bắt buộc và là một trong những tiêu chí để xem xét đề bạt, bổ nhiệm các chức danh cán bộ. Thực hiện tốt Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh nói chung và công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đội ngũ cán bộ các cấp nói riêng là cơ sở để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng.

4. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý nhà nước về quốc phòng ở tất cả các cấp, ngành, lĩnh vực. Trong đó, thực hiện tốt việc phân công, phân nhiệm và có nhiều hình thức, biện pháp thanh tra, kiểm tra cả thường xuyên và đột xuất, cả kiểm tra chung và theo các chuyên ngành. Cùng với đó, cần đề cao vai trò của quần chúng nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ngay tại cơ sở. Quá trình thực hiện cần nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc điểm, điều kiện của từng ngành, lĩnh vực để đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm, vai trò, trách nhiệm của từng cấp, ngành, cá nhân trong tổ chức triển khai thực hiện công tác quốc phòng, quân sự; đồng thời, tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Trên cơ sở đó, tiếp tục bổ sung, điều chỉnh và có biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng ở tất cả các cấp trong tình hình mới.

*

*       * 

Quán triệt và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII nói chung và quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh nói riêng là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong đó, trước hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải nắm chắc tư duy mới về quốc phòng, quân sự của Đảng. Đó là, hệ thống các quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng - an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quan điểm về xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; tăng cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, v.v. Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp; trong đó, cần phát huy cao độ vai trò, vị trí, ý thức trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên; đó là cơ sở để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

MẠNH HÀ - MẠNH DŨNG - QUANG CHUYÊN
_______________________

1- ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 151.

Ý kiến bạn đọc (0)

Đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng bộ Tài chính
Sáng 27-9, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trưởng đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI),...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 04:25 - 28/05/2017

EUR25311.5925614.2

GBP28920.5629384.22

USD2268022750

Giá vàng

Cập nhật : 08:40 - 27/05/2017

HCMSJC36.38036.600
Hà NộiSJC36.38036.620
Đà NẵngSJC36.38036.620

Thời tiết