Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống Nghiên cứu, thực hiện nghị quyết

QPTD -Thứ Hai, 15/07/2019, 09:06 (GMT+7)
Tiếp tục hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

LTS: Trong 30 năm qua, nhất là từ năm 2011 đến nay, thực hiện định hướng bảo vệ Tổ quốc theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc kế thừa, phát triển và tiếp tục hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề hết sức quan trọng. Từ số này, Tạp chí Quốc phòng toàn dân trân trọng giới thiệu bài viết: “Tiếp tục hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” của GS, TS. Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.

I

Định hướng bảo vệ Tổ quốc - sự phát triển về nhận thức và thành tựu

1. Định hướng bảo vệ Tổ quốc

Về định hướng bảo vệ Tổ quốc, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định: “Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”1. Trên cơ sở xác định rõ định hướng và mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh, Cương lĩnh năm 2011 còn cụ thể hóa với những nội dung hết sức rõ ràng. Đó là: (1). Xác định rõ trách nhiệm và lực lượng thực hiện định hướng bảo vệ Tổ quốc: “là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và lý luận, khoa học an ninh nhân dân. Chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”2. (2). Chỉ rõ những yếu tố và cách thức triển khai để tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”3. (3). Về xây dựng lực lượng, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Cương lĩnh chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. Xây dựng Quân đội nhân dân với quân số thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao; lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện,…”4. Đồng thời, Đảng, Nhà nước chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong điều kiện mới. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật từng bước hiện đại. (4). Cương lĩnh xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang: “Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh”5.

2. Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về định hướng bảo vệ Tổ quốc

Định hướng bảo vệ Tổ quốc hiện nay cho thấy, nhận thức của Đảng có sự đổi mới và ngày càng hoàn thiện. Trong Cương lĩnh năm 1991, định hướng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta xác định một cách toàn diện là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”6. Đến Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) và sau đó là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), định hướng bảo vệ Tổ quốc được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn. Đảng ta xác định bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XI, Đảng đưa vấn đề “giữ vững chủ quyền biển, đảo” và “ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống” vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời nhấn mạnh “an ninh chủ động”. Đại hội XII của Đảng đã nâng tầm nhận thức, coi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn là: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng”7.

Nếu như trong Cương lĩnh, chủ trương “kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế” thì Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”8.

Nhận thức của Đảng về sức mạnh và lực lượng để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng rõ hơn. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Để tăng cường sức mạnh cho lực lượng vũ trang thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”9.

Quá trình đổi mới, trước những diễn biến phức tạp của tình hình, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới và các thủ đoạn chống phá mới của thế lực thù địch, nhận thức của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển, ngày càng sâu sắc, toàn diện, đồng bộ hơn, nhất là về nội dung, phương thức thực hiện; xác định rõ nhiệm vụ cụ thể của toàn Đảng, toàn dân, tất cả các ngành, lĩnh vực, lực lượng vũ trang và các địa phương, đơn vị, coi đó là những hoạt động thường xuyên. Đảng ta chỉ rõ, phải xây dựng lực lượng lớn mạnh, sẵn sàng đấu tranh với các thế lực thù địch trong mọi tình huống: xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, biên giới, gây rối, biểu tình, bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang, lật đổ, ly khai; đấu tranh thường xuyên chống các tư tưởng, hành động trái với đường lối, quan điểm của Đảng; phòng, chống “diễn biến hòa bình” và những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch.

Đáng chú ý là, nhận thức về đối tác, đối tượng là tư duy mới có tính đột phá. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) chỉ rõ: để phát huy thuận lợi, hạn chế thách thức, cần có cách nhìn mới và thống nhất về đối tác, đối tượng. Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng. Đây là sự phát triển, bước đột phá tư duy của Đảng, với cách nhìn biện chứng, chuyển từ tư duy bạn, thù sang tư duy đối tác, đối tượng, trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc, thấy rõ sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng, đối tác; xác định lấy đối tác làm cơ sở để thiết lập quan hệ quốc tế rộng rãi, đồng thời đấu tranh với đối tượng và mặt đối tượng của đối tác.

Cùng với đó, định hướng bảo vệ Tổ quốc tiếp tục cụ thể hóa vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Đồng thời, xác định các chủ trương, giải pháp để tạo sức mạnh tổng hợp cho lực lượng vũ trang thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

3. Thành tựu

Theo định hướng trong Cương lĩnh của Đảng, cốt lõi của việc bảo vệ Tổ quốc chính là việc gắn chặt chẽ giữa bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Thực chất của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là bảo vệ chế độ xã hội đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, đã đạt được những cơ sở, nền tảng tương đối vững chắc, nhưng vẫn còn nhiều mặt yếu kém không dễ giải quyết và khắc phục một sớm, một chiều. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu nổi bật:

Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển. Đồng thời, tạo lập được môi trường quốc tế thuận lợi, quan hệ đối ngoại được tăng cường, hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu; thế và lực của Việt Nam ngày càng được nâng lên.

Hai là, củng cố, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Công tác tư tưởng, lý luận được chú trọng, tăng cường tổng kết, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc do thực tiễn đặt ra; kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch; giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Tổ quốc, nhân dân, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ba là, đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiềm chế được lạm phát, quy mô nền kinh tế tăng lên. An sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân cơ bản được ổn định.

Bốn là, sức mạnh tổng hợp của đất nước, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ngày càng được củng cố vững chắc. Mối quan hệ đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu, góp phần tạo thế và lực mới của đất nước để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quân đội và Công an được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; trong đó, một số quân chủng, binh chủng của Quân đội và một số lực lượng của Công an được xây dựng tinh nhuệ và tiến thẳng lên hiện đại. Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang được quan tâm và cải thiện đáng kể. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của đội quân cách mạng, đoàn kết nhất trí cao trong nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế cao cả, khắc phục khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. v

GS, TS. VŨ VĂN HIỀN, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

___________

1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 81.

2, 3, 4, 5 - Sđd, tr. 82, 82, 82 - 83, 83.

6 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 51, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 142.

7 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 148.

8, 9 - Sđd, tr. 149.

(Số sau: II. Góp phần hoàn thiện định hướng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa)

Ý kiến bạn đọc (0)

Đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng bộ Tài chính
Sáng 27-9, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Trưởng đoàn kiểm tra của Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc với Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI),...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 16:24 - 18/08/2019

EUR25550.9826397.54

GBP27734.1628178.28

USD2315023270

Giá vàng

Thời tiết