Vấn đề chung Ngày kỷ niệm lớn

QPTD -Thứ Tư, 08/11/2017, 15:31 (GMT+7)
Tư tưởng của V.I. Lê-nin về chế độ chính ủy, chính trị viên và sự vận dụng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam

Để bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, Hồng quân Liên Xô được xây dựng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích (b) Nga. Cùng với đó, chế độ chính ủy, chính trị viên trong Hồng quân được thiết lập, phát triển, đến nay còn nguyên giá trị trong xây dựng Quân đội ta.

1. Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời chế độ chính ủy trong Hồng quân.

Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, để giữ vững thành quả cách mạng, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Sự vững bền của nước cộng hòa trong cuộc chiến đấu chống đế quốc, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Nga và trên toàn thế giới đều tùy thuộc vào sự tăng cường quân đội”1; đồng thời nhấn mạnh: “Chúng ta có một bộ máy quân sự to lớn. Không có các chính ủy, chúng ta sẽ không có Hồng quân”2. Để thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Hồng quân, V.I. Lê-nin và Đảng Cộng sản (b) Nga chủ trương thành lập hệ thống chính ủy, chính trị viên bên cạnh người chỉ huy và các tổ chức đảng trong Hồng quân. Đại hội VIII Đảng Cộng sản (b) Nga (3-1919) xác định: “Công tác huấn luyện quân sự và giáo dục Hồng quân được tiến hành trên cơ sở đoàn kết giai cấp và giáo dục xã hội chủ nghĩa. Do đó, cần phải có những chính ủy là các đảng viên cộng sản đáng tin cậy và quên mình được đặt bên cạnh những người chỉ huy quân sự, và thành lập các chi bộ cộng sản trong từng đơn vị nhằm thiết lập mối liên hệ về tư tưởng trong nội bộ và một kỷ luật tự giác”3. Bởi lẽ, “Các chính ủy trong quân đội không chỉ là các đại diện trực tiếp của chính quyền Xô-viết, mà trước hết, là người mang tinh thần của Đảng, kỷ luật của Đảng, tính kiên nghị và lòng dũng cảm của Đảng vào trong cuộc đấu tranh để thực hiện những mục tiêu đã được đề ra”4, họ vừa là bí thư đảng, vừa là thủ trưởng đơn vị và hai cương vị này có mối quan hệ biện chứng, thống nhất hữu cơ với nhau. Là bí thư đảng, chính ủy đại diện và là hiện thân của Đảng trong đơn vị, trực tiếp giữ mối liên hệ chặt chẽ giữa đơn vị với Đảng. Là thủ trưởng, chính ủy là người đại diện chính quyền, thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý về chính trị, tư tưởng; giám sát, kiểm tra việc thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng trong hoạt động của đơn vị. Chức danh về chính quyền là sự “thể chế hóa” vai trò lãnh đạo trên thực tế đối với đơn vị của bí thư đảng.

Trên thực tế, từ cuối năm 1917, tổ chức đảng, chế độ chính ủy được xác lập trong một số đơn vị và đến tháng 4-1918, được tổ chức thực hiện thống nhất trong Hồng quân, làm nòng cốt xây dựng Hồng quân vững mạnh về chính trị. Chỉ riêng năm 1918, có hơn 3.200 đảng viên cộng sản được điều vào làm chính ủy trong Hồng quân. Theo báo cáo của cơ quan chính ủy toàn Nga, tháng 12-1918, có 6.389 chính ủy công tác trong Hồng quân. Vai trò của chính ủy thể hiện rõ ở việc kiểm tra chính trị và hoạt động của các chuyên gia quân sự (sĩ quan, tướng lĩnh của Quân đội Sa Hoàng) trong Hồng quân. Để giúp chính ủy tiến hành công tác chính trị ở phân đội, ngày 14-10-1919, Hội đồng Quân sự Cách mạng Nhà nước đặt chức vụ chính trị viên ở cấp đại đội, khẩu đội, đại đội kỵ binh và các đội quân đặc biệt. Chính trị viên chịu trách nhiệm trước chính ủy về giáo dục chính trị cho chiến sĩ, tham gia hoạt động của chi bộ đảng ở đại đội cũng như các tổ chức quần chúng. Có thể khẳng định: “Ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính ủy làm được chu đáo nhất, thì ở đấy nói chung, trong số chuyên gia quân sự ít thấy có khuynh hướng phản bội hơn cả; ở đấy có rất ít cơ hội cho họ thực hiện ý định của họ; ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”5. Quán triệt, thực hiện tư tưởng của V.I. Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng Cộng sản (b) Nga đã lãnh đạo xây dựng, tổ chức có hiệu quả chế độ chính ủy, chính trị viên, đảm bảo Hồng quân vững mạnh về mọi mặt, trước hết là về chính trị, làm nòng cốt cùng toàn dân giành thắng lợi trong nội chiến cách mạng, chiến tranh vệ quốc, cũng như trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Liên Xô xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, trong những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô, do xa rời những nguyên tắc của V.I. Lê-nin và Đảng Cộng sản (b) Nga, mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược, dẫn đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị vô hiệu hóa, không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội kiểu mới là sự bảo đảm vững chắc, có hiệu quả nhất để phát huy hiệu lực lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản đối với quân đội; đồng thời, khẳng định tính pháp lý vai trò bí thư đảng trong quân đội. Chế độ này chỉ có trong quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, được quy định bởi bản chất, chức năng, nhiệm vụ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Đây cũng là đặc điểm nổi bật để phân biệt quân đội vô sản với quân đội của giai cấp tư sản. Xa rời, xem nhẹ chế độ chính ủy, chính trị viên sẽ làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, suy yếu, bị vô hiệu hóa, không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

2. Vận dụng chế độ chính ủy, chính trị viên theo tư tưởng của V.I. Lê-nin vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập (tháng 02-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên đã khẳng định, về phương diện chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập; dựng ra chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông6 do Đảng lãnh đạo. Đến Đại hội I của Đảng (tháng 3-1935), ra Nghị quyết về Đội tự vệ, xác định: trên cơ sở vũ trang toàn dân, Đảng phải tổ chức ra quân đội công nông và Đảng phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt trong đội tự vệ thường trực; xác định cơ chế: bên cạnh đội tr­ưởng và phó đội trư­ởng có một đại biểu của Đảng để chủ trì về phư­ơng diện chính trị cho đội; xác định mối quan hệ đội trưởng và đại biểu Đảng phải hợp tác mà chỉ huy. Sự hoạt động hằng ngày thì phục tùng đảng bộ tương đương. Hoạt động quân sự thì phục tùng thư­ợng cấp tự vệ và quân ủy t­ương đương của Đảng. Đội trưởng và đại biểu của đảng bất đồng ý kiến thì do Đảng ủy tương đương hay là do thư­ợng cấp quân ủy giải quyết7. Quá trình ra đời, phát triển, trưởng thành của Quân đội ta, trong mỗi thời kỳ lịch sử, từ yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tiễn, Đảng ta đều đề ra cơ chế lãnh đạo, kiên trì thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên, đảm bảo sự lãnh đạo thông suốt của Đảng đối với Quân đội.

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Sau chiến thắng Phay Khắt, Nà Ngần, Đội đã phát triển thành đại đội, có 03 trung đội, mỗi trung đội có chính trị viên và ban công tác chính trị ở đại đội được thành lập, do chính trị viên đại đội phụ trách. Đến đây, bộ máy tiến hành công tác đảng, công tác chính trị của Đảng trong Quân đội được hình thành, gồm: cán bộ chính trị, cơ quan chính trị, chi bộ đảng, cán bộ chỉ huy. Nhờ đó, các hoạt động chính trị, tư tưởng của Đảng đối với bộ đội được tiến hành chặt chẽ, dân chủ, thông suốt và thống nhất. Tháng 4-1946, Đảng ta quyết định thành lập Trung ương Quân ủy - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng trong Quân đội. Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 71/SL-CP về việc Quân đội của nước Việt Nam là Quân đội quốc gia8, xác định: bố trí chính trị viên từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn, ở khu có chính trị ủy viên. Cán bộ chính trị ở mỗi cấp cùng với chỉ huy lãnh đạo, chỉ đạo mọi mặt trong đơn vị,… những việc có tính chất chính trị thì chính trị viên chịu trách nhiệm, chỉ huy phải thỏa thuận với chính trị viên, v.v. Đồng thời, Người khẳng định: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”9. Cho nên, “Đối với bộ đội, chính trị viên phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: ăn, mặc, ở, nghỉ, tập luyện, công tác, sức chiến đấu. Về mặt tinh thần, phải săn sóc để nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa, và đường lối chính trị trong bộ đội”10, và “… phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”11. Như vậy, cơ chế về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội được cụ thể hóa bằng hệ thống cơ chế riêng biệt: tổ chức đảng (cấp ủy), cán bộ quân sự (người chỉ huy), chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị. Trong đó, cấp ủy là cơ quan lãnh đạo, có vai trò quyết định nhất; người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên là thủ trưởng của đơn vị, phục tùng sự lãnh đạo của cấp ủy.

Từ tháng 11-1947 đến tháng 9-1948, Đảng chỉ đạo trong Quân đội thực hiện cơ chế đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng quân chính phân công tổ chức thực hiện. Tháng 10-1948 Trung ương Đảng ra quyết định: thành lập cơ chế chính ủy tối hậu quyết định; bỏ Trung ương quân ủy đến tiểu đoàn ủy; Trung ương có Tổng Chính ủy, cấp quân khu có chính ủy khu, cấp tỉnh có chính ủy tỉnh, cấp trung đoàn có chính ủy trung đoàn. Lúc này, Đảng lãnh đạo Quân đội thông qua hệ thống chính ủy. Chính ủy tối hậu quyết định những việc quan trọng thuộc đường lối, chính sách chung, những vấn đề chính trị, quân sự, tài chính; đồng thời, chỉ định phương châm chiến lược, chiến thuật quân sự, nhưng không trực tiếp chỉ huy quân sự, trừ khi cán bộ quân sự vắng. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, cơ chế này bộc lộ một số hạn chế, nhất là trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Do đó, từ tháng 7-1952 đến tháng 11-1982, Đảng ta triển khai thực hiện cơ chế: Đảng ủy lãnh đạo, thủ trưởng quân chính, thủ trưởng chính trị phân công tổ chức thực hiện theo chức trách. Việc thực hiện cơ chế này có nhiều ưu điểm, vai trò công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội được phát huy tốt, góp phần to lớn xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

Từ tháng 12-1982, do yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, Bộ Chính trị (khóa V) ra Nghị quyết 07/NQ-TW về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự nghiệp quốc phòng; tiếp đó, tháng 7 -1985, Bộ Chính trị (khóa V) ra Nghị quyết 27/NQ-TW về: tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng. Bên cạnh thành công đạt được, quá trình thực hiện bộc lộ một số bất cập. Khắc phục hạn chế đó, tháng 7-2005, Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết 51/NQ-TW, về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam và tổ chức thực hiện trong toàn quân. Như vậy, Nghị quyết đã hoàn thiện những vấn đề căn bản về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta mà Đảng ta đã kế thừa, kiên trì tìm tòi, tổ chức thực hiện một cách sáng tạo từ tư tưởng V.I. Lê-nin và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Đến nay, Nghị quyết đã đi vào thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực, trực tiếp góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; trong đó, vai trò chính ủy, chính trị viên được khẳng định, phát huy.

Ngày nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế có yêu cầu rất cao. Vì vậy, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội theo Nghị quyết 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) không chỉ là vấn đề nguyên tắc, mà còn hết sức cấp thiết. Qua đó, nâng cao hiệu quả tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, đảm bảo Quân đội ta luôn “Trung với Đảng, hiếu với dân”, là lực lượng đặc biệt tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế cho thấy, chính ủy, chính trị viên trong Quân đội ta là một giá trị văn hóa quân sự Việt Nam, là “linh hồn” của Quân đội ta. Thực hiện tốt điều đó, sẽ làm cho những giá trị của Cách mạng Tháng Mười, tư tưởng V.I. Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ chính ủy, chính trị viên thực sự là nền tảng, kim chỉ nam trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại tá, TS. NGUYỄN HỮU LUẬN, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
_____
____________

1 - V.I. Lê-nin - Toàn tập, Tập 37, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tr. 114.

2 - Sđd, Tập 41, tr. 179.

3 - Sđd, Tập 38, tr. 513.

4 - M.N. Ti-mô-phê-ê-trép - Chế độ một trưởng trong các lực lượng vũ trang Xô-viết, Nxb QĐND, H. 1982, tr. 13.

5 - V.I. Lê-nin - Toàn tập, Tập 39, Nxb Tiến bộ, M. 1979, tr. 66.

6 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 2011, tr.01.

7 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 90.

8 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 568.

9 - Sđd, Tập 5, tr. 484.

10, 11 - Sđd, Tập 4, tr. 484.

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát huy Chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, Quân đội nhân dân Việt Nam quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Cách đây tròn 70 năm, vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân cả nước, mà trực tiếp là quân và dân Việt Bắc đã làm nên chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, đánh bại cuộc hành binh bất ngờ, quy mô lớn của thực dân Pháp,...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 16:33 - 23/11/2017

EUR26645.7226964.28

GBP29924.430404.15

USD2269022760

Giá vàng

Cập nhật : 13:38 - 23/11/2017

HCMSJC36.40036.600
Hà NộiSJC36.40036.620
Đà NẵngSJC36.40036.620

Thời tiết