Vấn đề chung Ngày kỷ niệm lớn

QPTD -Thứ Hai, 03/04/2017, 11:22 (GMT+7)
Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (07-4-1907 – 07-4-2017)
Tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân

Đồng chí Lê Duẩn là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà hoạt động lý luận - thực tiễn sắc sảo, sáng tạo của Đảng, của cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của dân tộc. Với gần 60 năm hoạt động cách mạng, từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX, trên các cương vị: Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đồng chí đã có nhiều đóng góp lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Là nhà cách mạng nhiệt huyết, một lòng một dạ trung thành tuyệt đối với mục tiêu lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với tư duy độc lập, năng động, sáng tạo, luôn đào sâu suy nghĩ, kiên trì nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp lý luận xuất sắc trên nhiều lĩnh vực; góp phần giải quyết những vấn đề hệ trọng của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng, nhất là ở những thời điểm mang tính bước ngoặt và tình huống phức tạp.

Đồng chí Lê Duẩn thăm Vĩnh Linh ngày 02-02-1973 (30 Tết Quý Sửu).
( Ảnh tư liệu)

Trong di sản lý luận mà đồng chí Lê Duẩn để lại, tư duy lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân chiếm một vị trí quan trọng. Nhiều luận điểm sáng tạo của Đồng chí đã trở thành nghị quyết, chỉ thị để Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; góp phần phát triển tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới. Đúng như đánh giá của Trung ương Đảng: “Đồng chí đã cùng với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại xác định đường lối, chính sách của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng khoa học quân sự Việt Nam, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế khác”1. Tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Một là, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân. Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất quán với đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất giữ quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang. Quyền lãnh đạo đó không được phân cho một giai cấp, một tổ chức, đảng phái nào khác. Đảng xác định mục tiêu chiến đấu, chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, lãnh đạo bảo đảm mọi mặt để không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng này. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí viết: “Quân đội nhân dân Việt Nam ngay từ đầu là một đội quân công nông mang bản chất của giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng… sự lãnh đạo của Đảng, đó là nhân tố quyết định sự trưởng thành và mọi chiến thắng của lực lượng vũ trang”2. Theo đồng chí Lê Duẩn, Đảng Cộng sản Việt Nam là “một Đảng Mác – Lê-nin chân chính do Hồ Chủ tịch sáng lập và rèn luyện, tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp công nhân và lợi ích dân tộc”3; trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng đề ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, giải quyết một cách sáng tạo nhiều vấn đề thuộc về quy luật của cách mạng ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nông nghiệp lạc hậu, góp phần làm giàu kho tàng lý luận cách mạng bằng những kinh nghiệm mới.

Nhìn lại quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang, chúng ta thấy, lực lượng vũ trang nhân dân ra đời từ yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập của Tổ quốc và tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân là tất yếu khách quan, nhằm thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân giao cho Đảng. Ở đâu có tổ chức và hoạt động của lực lượng vũ trang thì ở đó có sự lãnh đạo của Đảng, được thực hiện bằng nguyên tắc lãnh đạo: tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được thực hiện bằng đường lối, chủ trương, cơ chế, nguyên tắc, chế độ, thông qua tổ chức và con người của Đảng trong lực lượng vũ trang từ Trung ương đến cơ sở,… trên tất cả các lĩnh vực, các nhiệm vụ: chính trị, tư tưởng và tổ chức, chiến đấu, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất, v.v. Vì vậy, ngay từ đầu và trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, lực lượng vũ trang nhân dân là đội quân công nông, đội quân cách mạng mang bản chất giai cấp của Đảng - giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Những chiến công, thành tích của lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn liền với những thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Không chỉ nhất quán với quan điểm Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang là tất yếu khách quan, cội nguồn sức mạnh của lực lượng quan trọng này, đồng chí Lê Duẩn còn làm phong phú thêm về lý luận, sâu sắc về thực tiễn thông qua hoạt động chỉ đạo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đồng chí yêu cầu lực lượng vũ trang phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, có cơ chế và các yếu tố bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được thông suốt, hiệu quả. Đồng chí viết: “Tổ chức của quân đội phải bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, phải bảo đảm tư tưởng nhất trí, hành động thống nhất”4, và “có chế độ lãnh đạo và chỉ huy chặt chẽ”.

Hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của lực lượng vũ trang. Đồng chí Lê Duẩn cho rằng, chăm lo xây dựng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho lực lượng vũ trang nhân dân luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trên cương vị của mình, đồng chí Lê Duẩn thường xuyên nhắc nhở lực lượng vũ trang phải “tỏ rõ bản chất của giai cấp công nhân”5, mọi cán bộ, chiến sĩ phải luôn rèn luyện mình trên lập trường ấy; nhất là, phải tích cực học tập, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; xây dựng tình đoàn kết nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân. Đồng chí viết: “Là công cụ của Nhà nước vô sản chịu sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Đảng, Quân đội ta trước hết phải học tập, hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phải quán triệt sâu sắc đường lối chính trị của Đảng”6. Đó là nền tảng tạo ra sức mạnh để lực lượng vũ trang hoàn thành mọi nhiệm vụ. Bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta cũng như quân đội các nước xã hội chủ nghĩa đã chỉ ra rằng, chỉ có trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-nin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, giai cấp tiên tiến nhất trong thời đại ngày nay, là nền tảng tư tưởng, vũ khí lý luận, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; nắm vững bản chất cách mạng, khoa học của lý luận đó và không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, mới bảo đảm cho lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Ngược lại, nếu không thực hiện tốt điều đó sẽ làm cho lực lượng vũ trang suy giảm ý chí, mất sức chiến đấu, thậm chí bị vô hiệu hóa, không còn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Theo đồng chí Lê Duẩn, lập trường giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang được thể hiện ở phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân; trong thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, cơ chế lãnh đạo và cả trong thực hành chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Trong đó, xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho lực lượng vũ trang; quán triệt, giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn giác ngộ sâu sắc lý tưởng, mục tiêu chiến đấu ấy, tạo sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, làm cho lực lượng vũ trang có đủ bản lĩnh vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng, nhân dân giao phó là thể hiện tập trung nhất, rõ nhất sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Song, mục tiêu đó phải được cụ thể hóa, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đề cập đến mục tiêu chiến đấu của lực lượng vũ trang, luôn thống nhất với quan điểm của Đảng, đồng chí Lê Duẩn xác định: “… quyết phấn đấu để thực hiện cho kỳ được sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, biến nước ta thành nước giàu mạnh, văn minh”7. Khi đất nước đã độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội thì “Quân đội ta phải luôn luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”8. Đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn, đã đáp ứng khát vọng của toàn dân và khát vọng của mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang luôn tự nguyện, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, thường xuyên lãnh đạo xây dựng tổ chức biên chế, trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang đảm bảo có sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Gắn liền với chăm lo giáo dục, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, Đảng ta thường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang về tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang ngày càng phát triển lớn mạnh, từ những đội tự vệ đầu tiên, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân trong phong trào đấu tranh cách mạng, giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, phát triển lên thành các đại đoàn, một số binh chủng trong kháng chiến chống Pháp và các quân đoàn, các quân chủng, binh chủng trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày nay, lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân đã có đầy đủ các cơ quan tham mưu chiến lược, quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường, viện nghiên cứu, nhà máy và xí nghiệp quốc phòng,…; được chăm lo xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đồng chí Lê Duẩn được Đảng, Bác Hồ giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính về cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Trên cương vị Bí thư thứ nhất, Tổng Bí thư, đồng chí đã đề đạt nhiều vấn đề để Trung ương Đảng, Bộ Chính trị thảo luận, quyết định; đồng thời, trực tiếp chỉ đạo Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo, chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân đáp ứng yêu cầu đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cũng như trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận định tình hình khi Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam, trong khi tính đến khả năng giành thắng lợi bằng tổng khởi nghĩa, trên cơ sở nắm vững lý luận, quy luật chiến tranh và tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Khởi nghĩa không thể thành công được nếu địch không bị thất bại về quân sự, còn sử dụng được công cụ bạo lực để chống phá cách mạng”, Đồng chí nhận rõ vai trò quan trọng, trực tiếp quyết định của đấu tranh quân sự. Vì vậy, Đồng chí thường xuyên nhấn mạnh phải “nắm vững hơn nữa việc xây dựng lực lượng vũ trang”, nhất là xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ bảo đảm cân đối, đồng bộ. Trong đó, xây dựng bộ đội chủ lực thành “một quả đấm mạnh” là nhiệm vụ được đồng chí Lê Duẩn thường xuyên quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn và đôn đốc thực hiện. Trong Thư gửi Trung ương Cục miền Nam (tháng 11-1965), Đồng chí yêu cầu: “Phải xây dựng nhanh các đơn vị chủ lực mạnh, trang bị tốt, cơ động cao và được bảo đảm tốt về tiếp tế, hậu cần”9. Bộ đội chủ lực, theo Đồng chí, phải “gồm những binh đoàn gọn nhẹ, có tinh thần chiến đấu và trình độ kỹ thuật chiến thuật rất cao, có hỏa lực thật mạnh,… có khả năng cơ động nhanh, có dự trữ lương thực và đạn dược tương đối đủ”10. Đồng chí còn thường xuyên quan tâm đến xây dựng và sử dụng có hiệu quả lực lượng dự bị, đồng thời xác định rõ đó là nguyên tắc tổ chức Quân đội nhân dân (lực lượng thường trực và lực lượng dự bị) và điều kiện đảm bảo giành, giữ quyền chủ động chiến lược trong chiến tranh. Đối với cách mạng miền Nam, lực lượng dự bị không chỉ được tổ chức xây dựng để bổ sung kịp thời cho lực lượng vũ trang mà trong đó còn phải xây dựng lực lượng chính trị, nhất là ở các thị trấn, thị xã, đô thị.

Tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn về Đảng lãnh đạo xây dựng, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân với nhiều nội dung cơ bản, toàn diện được hình thành trên cơ sở nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn đấu tranh cách mạng ở nước ta. Đó là một bộ phận thống nhất với quan điểm của Đảng, được các cấp chỉ đạo tổ chức thực hiện kiên quyết, hiệu quả, từng bước làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng theo hướng có lợi cho ta trong các cuộc kháng chiến và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng vũ trang nhân dân có bước phát triển nhảy vọt về tổ chức biên chế, vũ khí, trang bị, có sức mạnh chiến đấu cao. Trong thời kỳ đầu và giữa cuộc chiến tranh, Quân đội ta đã tổ chức lực lượng với quy mô gồm các quân chủng, binh chủng, sư đoàn bộ binh, binh đoàn vận tải chiến lược (gồm các đoàn vận tải cơ giới đường bộ, đường sông, đường biển) tương đối hoàn chỉnh. Đến cuối cuộc chiến tranh, Quân đội ta đã tổ chức quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật tương đối hiện đại và hiện đại để thực hiện điều động, tiêu diệt lớn quân địch. Nhờ đó, chúng ta có điều kiện để tổ chức các chiến dịch hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, các đợt hoạt động tác chiến chiến lược tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực của địch, đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn chính quyền và quân đội Việt Nam cộng hòa, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Không chỉ đề xuất những quan điểm góp phần hoàn thiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nhất là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (ba thứ quân), nòng cốt là Quân đội nhân dân, đồng chí Lê Duẩn còn rất quan tâm đề xuất với Đảng lãnh đạo bảo đảm trang bị vũ khí, công tác hậu cần, kỹ thuật và chăm lo đời sống của bộ đội; đồng thời, cũng là người lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện những quan điểm, tư tưởng ấy. Đó là những yếu tố quan trọng, tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nhất là khi đất nước đã hòa bình, phải coi trọng phát triển công nghiệp quốc phòng để sản xuất ra vũ khí, phương tiện kỹ thuật trang bị cho lực lượng vũ trang, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Đồng chí chỉ rõ: “Lực lượng vũ trang ta phải được trang bị từng bước những vũ khí và phương tiện chiến tranh ngày càng hiện đại, cả vũ khí phòng, chống và vũ khí tiến công, cả phương tiện chỉ huy và phương tiện cơ động... Phải từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, rất quan tâm đảm bảo vật chất, kỹ thuật, bảo đảm hậu cần cho bộ đội. Dựa vào sức dân, dựa vào những thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở từng địa phương và trong cả nước, giải quyết tốt những nhu cầu của các đơn vị, chăm lo đời sống của chiến sĩ”11.

Hiện nay, trong điều kiện mới, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chăm lo của Nhà nước và nhân dân, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng được trang bị vũ khí, phương tiện ngày càng hiện đại; khả năng, năng lực sản xuất, cải tiến, phát triển các loại vũ khí, trang bị từng bước được nâng lên. Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Qua đó, tạo động lực, nâng cao sức mạnh, khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Bốn là, Đảng lãnh đạo việc xây dựng và phát triển khoa học - nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây là nội dung lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Vì, nghệ thuật quân sự là cơ sở để đề ra đường lối quân sự, phương châm chỉ đạo tác chiến, vận dụng vào thực hành huấn luyện, diễn tập, chiến đấu của bộ đội. Kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo giải quyết thành công hàng loạt vấn đề về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong chiến tranh giải phóng cũng như chiến tranh giữ nước, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trên lĩnh vực này, đồng chí Lê Duẩn đã có những cống hiến xuất sắc cả về lý luận và thực tiễn. Đó là quan điểm của Đồng chí về Đảng lãnh đạo sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; liên tục thực hành chiến lược tiến công từ nhỏ đến lớn, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị; khởi nghĩa từng phần, từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp nổi dậy với tiến công, tiến công với nổi dậy để giành thắng lợi. Về phương châm chỉ đạo chiến lược chung là đánh lâu dài, đồng thời hết sức tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Phương châm tác chiến là đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực; kết hợp đánh lớn với đánh vừa và đánh nhỏ, căng địch ra mà đánh, bao vây địch mà diệt, vừa chiến đấu vừa sản xuất, kết hợp tiền tuyến với hậu phương; biết kiềm chế địch, biết kéo địch xuống thang từng bước để đánh thắng chúng. Đánh mạnh được, đánh lâu dài được, càng đánh càng mạnh; làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; làm chủ và tiến công, tiến công và làm chủ. Đánh lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, mở những trận tiến công chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công, đè bẹp quân địch, giành thắng lợi cuối cùng.

Có thể thấy, tư duy lý luận xuyên suốt của đồng chí Lê Duẩn về nghệ thuật quân sự là tư tưởng tiến công, được thể hiện trong câu nói: “Một người cũng tiến công, một tổ cũng tiến công”, lấy tiến công để phòng ngự và phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, thứ quân, các hình thức chiến thuật và các phương thức tác chiến. Đồng chí viết: “Nắm vững tư tưởng tiến công, chủ động tiến công để phòng ngự, đó là quan điểm của ta về chiến lược, chiến thuật trong chiến tranh cách mạng”12. Không những chiến tranh chính quy mà chiến tranh du kích cũng là tiến công, là bao vây địch, căng địch ra mà đánh, chứ không phải là phòng ngự. Tư duy lý luận chỉ đạo chiến lược quân sự tiến công của đồng chí Lê Duẩn bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng tiến công. Không có tư tưởng tiến công thì không có cả nước đánh giặc. Chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao chính là ở chỗ phát động được toàn dân đánh giặc trên cả hai miền đất nước theo đường lối và sự lãnh đạo thống nhất của Đảng.

Nắm thời cơ, kết thúc chiến tranh cũng là vấn đề cực kỳ quan trọng của nghệ thuật quân sự. Vì vậy, Đồng chí thường nhắc nhở toàn Đảng và toàn quân: “Chúng ta cần nhận rõ tính chất khó khăn, phức tạp của cuộc chiến tranh để biết đánh và biết thắng. Đã biết mở đầu đúng, biết đánh lâu dài thì chúng ta phải biết kết thúc đúng”13. Đó là nghệ thuật biết tận dụng những điều kiện thuận lợi, biết lợi dụng khoét sâu vào những chỗ yếu, và tạo ra sai lầm về phía địch; biết phát hiện và tận dụng thời cơ, biết kết hợp các hình thức đấu tranh, phát huy sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Trên quan điểm đó của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta lãnh đạo phân tích tình hình sau Hiệp định Pa-ri, nhận định: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn”14. Từ đó, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976, sau đó rút xuống trong năm 1975. Song, sau các chiến dịch lớn đầu năm 1975, nhận định thời cơ đã chín muồi, Đảng ta đã quyết tâm giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975. Với tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (tháng 4-1975), quân và dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn về Đảng lãnh đạo phát triển lý luận quân sự cũng là nét đặc sắc. Theo đồng chí, “Trong chiến tranh cách mạng cũng vậy, không có lý luận quân sự thì không thể đánh thắng được quân giặc ... Nhất thiết phải xây dựng lý luận quân sự, khoa học quân sự để trang bị cho quân đội ta”15. Không chỉ trong chiến tranh giải phóng, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước những vấn đề mới về: đối tượng tác chiến, chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, Đồng chí luôn nhắc nhở phải tiếp tục nghiên cứu lý luận quân sự, đó là cơ sở chỉ đạo mọi hoạt động, đào tạo cán bộ, huấn luyện bộ đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Các cấp phải làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững hơn nữa lý luận, khoa học quân sự Việt Nam, biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, nghiên cứu sáng tạo những cách đánh mới, làm cho các thứ quân, các lực lượng, các đơn vị đều tinh nhuệ.

Năm là, Đảng lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, được khẳng định tại Đại hội XII, trên cơ sở đúc rút từ sự lãnh đạo của Đảng, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Về vấn đề này, ngay từ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Duẩn luôn quan tâm, đề xuất với Đảng những nội dung quan trọng về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, ngày càng tiến lên chính quy, hiện đại, thực sự là đội quân tinh nhuệ. Đặc biệt, khi đất nước thống nhất, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là yêu cầu khách quan, chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước. Trong Diễn văn kỷ niệm lần thứ 35 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đồng chí viết: “Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng các lực lượng vũ trang của chúng ta thành một Quân đội nhân dân cách mạng hùng mạnh; một quân đội có trình độ chính quy hiện đại ngày càng cao; một quân đội vừa sẵn sàng chiến đấu và kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, vừa lao động sản xuất, góp phần xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước”16. Đồng chí còn có nhiều chỉ dẫn cụ thể, khoa học về xây dựng các yếu tố: cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại của Quân đội, như: “một quân đội cách mạng hùng mạnh là một quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, tỏ rõ bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân lao động,…”17; hay như: “một quân đội có trình độ chính quy, hiện đại cao là một quân đội có tổ chức hợp lý, có kỷ luật sắt tự giác và nghiêm minh; có vũ khí trang bị hiện đại, làm chủ được khoa học, kỹ thuật quân sự và nắm vững chiến lược, chiến thuật của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc”18, v.v. Những tư duy lý luận đó của đồng chí Lê Duẩn được Đảng ta kế thừa, cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương lãnh đạo xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đạt kết quả cao. Nổi bật là, chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng được nâng cao. Bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân được giữ vững và tăng cường; cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tổ chức lực lượng Quân đội theo hướng: tinh, gọn, mạnh, có sức cơ động cao; bảo đảm cân đối giữa các quân chủng, binh chủng, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu cao. Vì vậy, đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng là nhiệm vụ quan trọng, cần tạo sự thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, song, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Đó là một thể thống nhất biện chứng; trong đó, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng là nền tảng, xây dựng chính quy là động lực, nâng cao trình độ tinh nhuệ về tác chiến là then chốt và từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật là trọng tâm. Tuyệt đối hóa, tách rời, hay hạ thấp bất cứ nội dung nào cũng làm ảnh hưởng đến việc củng cố, tăng cường bản chất, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Coi trọng và thực hiện đồng bộ cả bốn yếu tố đó chính là cơ sở bảo đảm cho Quân đội thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định rằng, tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân vẫn còn nguyên giá trị, như “ngọn đèn hai trăm nến” mãi tỏa sáng, cần được nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng, tăng cường, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân; bảo đảm lực lượng này thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

______________

1 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 47, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 155-156.

2 - Lê Duẩn - Bảo đảm cho đất nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, Nxb QĐND, H. 1981, tr. 31.

3 - Sđd, tr. 11.

4 - Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1993, tr. 222.

5 - Lê Duẩn - Bảo đảm cho đất nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, Nxb QĐND, H. 1981, tr. 30.

6 - Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1993, tr. 439.

7 - Sđd, tr. 226.

8 - Lê Duẩn - Bảo đảm cho đất nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, Nxb QĐND, H. 1981, tr. 30.

9 - Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1993, tr. 248.

10 - Sđd, tr. 249.

11 - Lê Duẩn - Bảo đảm cho đất nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, Nxb QĐND, H. 1981, tr. 33.

12 - Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1993, tr. 252.

13 - Lê Duẩn - Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H. 1985, tr. 246.

14 - Sđd, tr. 360.

15 - Lê Duẩn - Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, H. 1993, tr. 439.

16 - Lê Duẩn - Bảo đảm cho đất nước đánh thắng kẻ thù xâm lược, Nxb QĐND, H. 1981, tr. 29-30.

17 - Sđd, tr. 30.

18 - Sđd, tr. 32.

Ý kiến bạn đọc (0)

Phát huy Chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, Quân đội nhân dân Việt Nam quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Cách đây tròn 70 năm, vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân cả nước, mà trực tiếp là quân và dân Việt Bắc đã làm nên chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, đánh bại cuộc hành binh bất ngờ, quy mô lớn của thực dân Pháp,...
Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 09:26 - 17/12/2017

EUR26523.0626845.29

GBP29908.9930388.5

USD2268022750

Giá vàng

Cập nhật : 09:13 - 16/12/2017

HCMSJC36.32036.520
Hà NộiSJC36.32036.540
Đà NẵngSJC36.32036.540

Thời tiết