Thông tin - Tư liệu Biển, đảo Việt Nam

QPTD -Thứ Hai, 16/01/2017, 10:03 (GMT+7)
Hệ thống cảng biển Việt Nam

Cảng Hải Phòng. (Ảnh: haiphong.gov.vn)

Trong phát triển kinh tế biển nói chung, hoạt động giao thương hàng hải nói riêng, hệ thống cảng biển đóng vai trò quan trọng, quyết định sự vươn ra toàn cầu của mọi quốc gia có biển. Đối với Việt Nam - quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài, với nhiều eo, vũng, vịnh sâu nằm gần các đô thị lớn, trung tâm du lịch biển, đảo và các khu vực sản xuất hàng hóa,… lại án ngữ con đường hàng hải nhộn nhịp bậc nhất trên thế giới, thì phát triển hệ thống cảng biển càng có ý nghĩa quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây mới nhiều hải cảng quy mô quốc gia và quốc tế trên phạm vi cả nước, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế biển. Đến nay, đã có 160 bến cảng đưa vào sử dụng, được phân bố trên từng khu vực, địa bàn cả nước, với năng lực thông quan hàng hóa ngày càng tăng. Năm 2015, sản lượng thông quan hàng hóa của toàn hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt trên 600 triệu tấn. Trong đó, riêng ngành Hàng hải đang quản lý, khai thác 35 luồng vào các cảng quốc gia, hàng chục luồng vào các cảng chuyên dụng và trên 330 cầu bến,… với tổng chiều dài lên tới 39.950 m, tăng gấp hai lần so với năm 1999, góp phần đưa năng suất xếp dỡ, thông quan hàng hóa các loại của hệ thống cảng biển Việt Nam lên ngang hàng các nước trong khu vực.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, hiệu quả sử dụng, khai thác hệ thống cảng biển của nước ta còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Hiện tại, phần lớn các cảng biển vẫn sử dụng công nghệ quản lý, khai thác lạc hậu, năng suất xếp dỡ hạn chế (chỉ đạt 45% - 50% mức tiên tiến của thế giới). Trong khi đó, một số bến cảng, do quy hoạch thiếu tầm nhìn, nặng về đối phó với tăng trưởng cục bộ, nên khó có thể kết nối để thiết lập mạng lưới giao thông quốc gia đồng bộ, chặt chẽ. Điều này không chỉ dẫn tới tình trạng cảng nhiều, hàng hóa ít, mà còn làm suy yếu năng lực thông quan hàng hóa ở các cảng vốn là đô thị lớn, nhưng phải chịu sức ép về dân số tăng nhanh và hạ tầng giao thông xuống cấp, v.v.

Trước tình hình đó, ngày 24-12-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2190/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch phát triển Hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, việc phát triển hệ thống cảng biển phải theo vùng lãnh thổ và được phân loại cụ thể về quy mô, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cảng trong hệ thống cảng biển quốc gia theo thứ tự sau: (1). Cảng tổng hợp quốc gia là cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm: cảng trung chuyển quốc tế (Vân Phong); cảng cửa ngõ quốc tế (Hải Phòng, Thị Vải - Cái Mép); cảng đầu mối khu vực (Hòn Gai, Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Dung Quất, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Đồng Nai…). (2). Các cảng địa phương với chức năng phục vụ chủ yếu trong phạm vi từng tỉnh, thành phố. (3). Cảng chuyên dụng phục vụ trực tiếp các cơ sở công nghiệp tập trung, các loại hàng hóa có tính đặc thù, chuyên biệt và là một hạng mục trong tổng thể công nghiệp mà nó phục vụ. Trong mỗi cảng, cùng với nghiên cứu, bố trí hệ thống khu vực bến, các bến và cầu cảng một cách khoa học, cần tập trung đầu tư trang, thiết bị hiện đại cùng công nghệ quản lý, điều hành tiên tiến, ngang tầm khu vực và thế giới, không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động. Với cách quy hoạch, phát triển hệ thống cảng biển nêu trên, dự kiến đến năm 2020, sản lượng hàng hóa thông quan có thể đạt trên 1.100 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng phát triển kinh tế biển của đất nước trong bối cảnh hội nhập.

Quốc Minh thực hiện

Ý kiến bạn đọc (0)

Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 14:28 - 24/04/2017

EUR24483.4524776.16

GBP28733.3129193.95

USD2269022760

Giá vàng

Cập nhật : 14:28 - 24/04/2017

HCMSJC36.58036.780
Hà NộiSJC36.58036.800
Đà NẵngSJC36.58036.800

Thời tiết