QPTD -Thứ Năm, 27/11/2014, 10:05 (GMT+7)
Phát huy vai trò của ngư dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc (Phần II)

Tiếp theo*

Ngư dân vươn khơi, bám  biển bảo vệ
chủ quyền Tổ quốc (Nguồn: in-tơ-nét)

II. Quyết tâm bám biển, vươn khơi

Ngư dân Việt Nam cũng như các tầng lớp nhân dân khác, vốn có tinh thần hăng say lao động, yêu nước nồng nàn. Với mỗi ngư dân, bám biển, vươn khơi là cuộc sống, là niềm tự hào được làm chủ vùng biển quê hương, nối nghề truyền thống ông cha để lại để nâng cao đời sống gia đình, góp phần phát triển kinh tế của đất nước. Bởi vậy, khi trời yên biển lặng hay dù sóng to, gió lớn họ cũng chẳng quản; coi việc vươn đến tận cùng hải phận Tổ quốc để khai thác hải sản, thực hiện quyền làm chủ biển, đảo là khát vọng, hạnh phúc của mình. Họ quan niệm rằng, với phần lớn thời gian làm ăn trên biển, thì ra khơi mới thực sự là “về quê”, tàu là nhà, biển là quê hương; ra khơi không chỉ là mưu sinh, mà còn thể hiện ý thức, trách nhiệm đối với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Nơi ấy - các vùng biển, đảo Việt Nam - ông cha ta đã chiến đấu, hy sinh để giữ gìn, truyền lại cho con cháu muôn đời sau. Ý thức rõ điều trên, các thế hệ ngư dân ngày nay luôn quyết tâm bám biển khai thác hải sản và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sản lượng khai thác thủy sản năm 2013 ước đạt 2.661,8 nghìn tấn; trong đó, sản lượng khai thác hải sản đạt 2.474,5 nghìn tấn. Riêng 09 tháng đầu năm 2014, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 2.244 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng biển của ta, đã có hàng trăm lượt tàu, thuyền của ngư dân kiên cường ra khơi, bám biển, vừa khai thác hải sản, vừa cùng các lực lượng chức năng đấu tranh, phản đối, bảo vệ ngư trường truyền thống mà ông cha để lại, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Điều đó cho thấy, ngư dân ra khơi không chỉ khi thuận lợi, mà ngay cả lúc khó khăn, thử thách, bị các tàu nước ngoài xua đuổi, va đập, thu giữ, cướp ngư cụ…, cũng không làm họ nản chí; đâm thủng tàu thì ta khắc phục, mất tàu này ta đóng tàu khác, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, ngư dân vẫn kiên cường bám biển, mưu sinh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhận thức rõ vai trò của ngư dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cũng như đẩy mạnh CNH,HĐH, phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã sớm đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy vai trò của họ trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng xác định: “…phát triển đánh bắt xa bờ, gắn với quốc phòng, an ninh”1, “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển”2. Đây không chỉ là quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước, mà còn là mong muốn của ngư dân, các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, lực lượng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thực hiện tốt chủ trương, chính sách đó sẽ góp phần tăng cường sự hiện diện của ngư dân cả về số lượng và thời gian bám biển, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo khi được huy động.

Đến nay, nhìn chung các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã được các cấp, các ngành triển khai tích cực nhằm phát huy vai trò của ngư dân trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: cho vay vốn tín dụng để đóng tàu mới, hoán cải tàu đánh bắt xa bờ, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, dịch vụ hậu cần nghề cá, chương trình chăm sóc sức khỏe cho ngư dân, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, xây dựng nông thôn mới ở các làng chài ven biển…, bước đầu đạt hiệu quả tích cực. Theo báo cáo của Ban Dân nguyện, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XIII), tính đến tháng 10-2013, Nhà nước đã hỗ trợ ngư dân khoảng 1.300 tỷ đồng để đóng mới tàu cá xa bờ; trong đó, số tàu được hỗ trợ đóng mới có công suất 90 CV trở lên là 1.365 chiếc. Các chương trình tín dụng cho ngư dân vay để đóng mới tàu thuyền và trang bị ngư cụ đã góp phần phát triển được khoảng 6.000 tàu cá thuộc 20/28 tỉnh, thành phố ven biển có đủ điều kiện tham gia hoạt động trên các vùng biển xa. Việc đầu tư hỗ trợ phương tiện thông tin liên lạc đã hoàn thành lắp đặt thí điểm 7.000 máy thu, trực canh cho ngư dân, gắn thiết bị (chíp) thu, phát tín hiệu từ vệ tinh cho 3.000 tàu. Qua đó, giúp các tàu nhận được thông tin dự báo thời tiết, hướng dẫn hành trình tránh, trú bão, dự báo ngư trường và các thông tin quan trọng khác từ các cơ quan quản lý thủy sản một cách thuận lợi và có biện pháp khắc phục ảnh hưởng của thời tiết. Đồng thời, là cầu nối liên lạc trực tiếp giữa ngư dân với gia đình và tự động báo vị trí tàu về bờ (02 giờ/lần) để tạo sự yên lòng giữa người thân nơi đất liền với các tàu thuyền nơi biển xa, v.v. Nhờ đó, các cơ quan chức năng quản lý các tàu tốt hơn, kịp thời nắm tình hình mọi mặt trên biển và xử lý những tình huống bất trắc xảy ra. Việc tổ chức cho ngư dân sản xuất theo mô hình tổ, đội bước đầu góp phần quan trọng trong khai thác hải sản, chia sẻ thông tin về ngư trường, thời tiết, kinh nghiệm, hỗ trợ nhau xử lý rủi ro, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, chống đánh bắt trộm hải sản, góp phần giảm bớt chi phí sản xuất, giảm thiệt hại khi xảy ra tai nạn, hạn chế tính “tự phát, hoạt động đơn lẻ”, kém hiệu quả của ngư dân. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ dầu, bảo hiểm thân tàu, thuyền viên, bảo hiểm y tế, chi phí mua vé phương tiện về nơi cư trú đối với các trường hợp xảy ra rủi ro xa nơi cư trú; hỗ trợ thiệt hại đối với các phương tiện sản xuất bị mất, bị hư hỏng nặng, trục vớt khi bị chìm đắm hoặc trôi dạt…, cùng với việc đẩy mạnh chính sách an sinh xã hội, sự đồng hành, giúp đỡ của các tổ chức, đoàn thể, đã góp phần giải quyết những khó khăn trong sản xuất, nâng cao hiệu quả khai thác, tạo môi trường thuận lợi để ngư dân yên tâm bám biển.

Tuy nhiên, so với yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo, việc thực hiện các chế độ, chính sách nhằm phát huy vai trò của ngư dân chưa được như mong muốn. Việc quy hoạch phát triển tàu, thuyền không hợp lý, thiếu định hướng nên dẫn đến số lượng các phương tiện khai thác ven bờ chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 80%), chủ yếu là tàu vỏ gỗ, thô sơ, trang bị đơn giản, chỉ chịu được sóng gió cấp 08 trở xuống; lượng dự trữ nhiên liệu, thực phẩm, trọng tải hạn chế nên thời gian đi biển ngắn, đánh bắt gần bờ, sản lượng khai thác thấp. Chính sách tín dụng chưa phù hợp, cho vay vốn đóng tàu nhưng không đồng bộ, như: chưa tính đến cho vay để đầu tư trang thiết bị và các vật tư khác cũng như chi phí cho từng chuyến đi biển; thủ tục vay vốn phức tạp, nhiều khâu trung gian, lãi suất cao, thậm chí có nơi ngư dân chưa tiếp cận được với nguồn vốn. Về xây dựng cảng, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão thì tiến độ, chất lượng chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu của ngư dân. Đến nay, việc làm đó mới chỉ đạt khoảng trên 50% theo quy hoạch; một số cảng, bến cá, âu thuyền neo đậu tránh, trú bão đã quá tải, xuống cấp, khó khăn cho tàu, thuyền qua lại, làm tăng chi phí. Trình độ tay nghề của ngư dân thấp, hầu hết đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá chưa được đào tạo qua trường, lớp chính quy lại thiếu kiến thức cơ bản về pháp luật và sử dụng các thiết bị hàng hải. Đặc biệt là, cả nước chưa có cơ sở đào tạo về khai thác, đánh bắt xa bờ, nên ngư dân truyền nghề cho nhau theo kiểu “cha truyền con nối” và tự học hỏi từ thực tiễn khai thác, đánh bắt. Phần lớn ngư dân khai thác hải sản không được chủ tàu ký kết hợp đồng bằng văn bản, chỉ thỏa thuận miệng, nên tình trạng quản lý, sử dụng ngư dân không ổn định, thiếu hụt, ảnh hưởng đến quá trình khai thác hải sản. Công nghệ đánh bắt, bảo quản, chế biến còn lạc hậu, chủ yếu là thủ công, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm không cao, giá trị xuất khẩu thấp. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ giải quyết khó khăn, nâng cao đời sống cho ngư dân còn nhiều bất cập, nhất là việc quy định các địa phương chịu trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ ngư dân từ nguồn kinh phí của mình và phần lớn chỉ được hỗ trợ bằng các chính sách bảo trợ xã hội nói chung, mức hỗ trợ còn nhỏ so với tổn thất thực tế. Mặt khác, chính sách nêu trên chỉ áp dụng đối với những trường hợp bị thiên tai, mà không áp dụng đối với một số trường hợp rủi ro khác, nên không giải quyết được khó khăn cho ngư dân. Việc tổ chức sản xuất theo các tổ, đội còn mang tính tự phát, một số nơi chưa có quy chế hoạt động; sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương chưa thường xuyên. Đặc biệt, trong đấu tranh tại thực địa, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển vừa qua, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phổ biến, quán triệt nhiệm vụ, tuyển chọn, huy động lực lượng, phương tiện của ngư dân chưa bảo đảm, các quy chế, quy định thiếu đồng bộ. Một số ngư dân nhận thức đầy đủ ý nghĩa, trách nhiệm với Tổ quốc nhưng trong công tác chuẩn bị lại chưa tốt, còn biểu hiện đơn giản, chủ quan.

Những bất cập trên làm cho việc phát huy vai trò của ngư dân trong phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc chưa đạt được yêu cầu. Trong khi đó, tình hình tranh chấp chủ quyền, biển đảo ở Biển Đông hiện nay vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là thái độ hung hăng, bất hợp tác của quốc gia có tư tưởng độc chiếm Biển Đông. Cùng với đó là những khó khăn về thời tiết, bão gió, biển động, chi phí sản xuất cao, sản phẩm không tiêu thụ được, “được mùa rớt giá”..., đã và đang tác động sâu sắc đến nhận thức, tình cảm, sự gắn bó với nghề của ngư dân. Mặt khác, hoạt động khai thác của ngư dân mới chủ yếu trong các vùng biển gần bờ, chưa vươn xa được, thậm chí đã có trường hợp chuyển từ đánh bắt xa bờ về đánh bắt gần bờ. Thực tế trên, đặt ra câu hỏi: Vậy chúng ta phải làm gì trong thời gian tới để ngư dân bám biển, vươn khơi, phát huy vai trò trong khai thác hải sản gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc theo quan điểm kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định?

HỒNG LÂM - VĂN BẢY - HOÀNG TRƯỜNG
______________________

* - Xem Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 10-2014.

1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 115 - 116.

2 - Sđd - tr. 121.

(Phần III: Biến quyết tâm thành hiện thực)

Ý kiến bạn đọc (0)

Thông tin tiện ích

Tỷ giá

Cập nhật : 01:52 - 26/08/2019

EUR25464.0526307.74

GBP27985.9728434.13

USD2314023260

Giá vàng

Thời tiết